Thời sự

TP.HCM và 'mệnh lệnh' đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công

Hoàng Bắc 24/06/2026 15:32

TP.HCM bước vào năm 2026 với áp lực giải ngân đầu tư công lớn nhất từ trước đến nay, trong bối cảnh nhiều dự án trọng điểm vẫn chậm tiến độ.

Để hoàn thành mục tiêu giải ngân 100% trong năm, thành phố đang đồng loạt triển khai các giải pháp mạnh, từ siết kỷ luật điều hành đến tái cơ cấu dòng vốn.

Giải ngân vốn chưa như kỳ vọng

Năm 2026 là năm đầu tiên TP.HCM triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030 với quy mô vốn đặc biệt lớn. Tổng nguồn vốn được phân bổ lên tới 147.599 tỉ đồng, chiếm khoảng 14,6% tổng vốn đầu tư công cả nước. Đây là mức tăng hơn 22% so với năm trước, phản ánh kỳ vọng rất lớn vào vai trò đầu tàu kinh tế của thành phố trong việc dẫn dắt tăng trưởng vùng và cả nước.

metro.jpg
TP.HCM đang triển khai nhiều dự án hạ tầng giao thông quy mô lớn. Ảnh: HH

Tuy nhiên, theo báo cáo đến hết ngày 31/5/2026, tổng số vốn giải ngân mới đạt khoảng 24.918 tỉ đồng, tương đương 16,9% kế hoạch Thủ tướng giao. Con số này không chỉ thấp so với yêu cầu nội bộ mà còn thấp hơn mức bình quân chung của cả nước, cho thấy nhiều điểm nghẽn vẫn chưa được tháo gỡ triệt để.

Cơ cấu nguồn vốn cũng cho thấy sự chênh lệch đáng kể. Vốn ngân sách địa phương đạt 17,1%, trong khi vốn ngân sách trung ương mới đạt 9,6%. Điều này phản ánh sự khác biệt trong khả năng chuẩn bị thủ tục, tính sẵn sàng của dự án cũng như mức độ chủ động của từng nhóm chủ đầu tư.

Đáng chú ý, có tới 123 đơn vị và hơn 2/3 số xã, phường được giao vốn nhưng chưa giải ngân đồng nào. Một số dự án trọng điểm như Vành đai 4 – TP.HCM, cao tốc TP.HCM – Mộc Bài hay các dự án bồi thường giải phóng mặt bằng quy mô lớn vẫn chưa phát sinh khối lượng nghiệm thu. Điều này khiến áp lực dồn về cuối năm trở nên rất lớn, khi tốc độ giải ngân phải tăng gấp nhiều lần so với hiện tại mới có thể hoàn thành kế hoạch.

Theo ông Hoàng Vũ Thảnh, Giám đốc Sở Tài chính TP.HCM, tình trạng chậm giải ngân xuất phát từ nhiều nguyên nhân mang tính hệ thống, không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật. Trước hết, 2026 là năm mở đầu của chu kỳ đầu tư công trung hạn mới nên phần lớn dự án phải làm lại hoặc hoàn thiện nhiều thủ tục quan trọng. Các bước như phê duyệt chủ trương đầu tư, lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, dự toán và đấu thầu lựa chọn nhà thầu đều cần thời gian xử lý, dẫn đến việc dù đã bố trí vốn nhưng chưa có khối lượng thi công để giải ngân.

Mặt khác, công tác giải phóng mặt bằng tiếp tục là “nút thắt” lớn nhất. Tình trạng pháp lý đất đai phức tạp, nguồn gốc sử dụng đất đa dạng, cùng với phương án bồi thường chưa đồng thuận khiến tiến độ bàn giao mặt bằng bị kéo dài. Nhiều dự án chỉ bàn giao được từng phần “da beo”, không liên tục, làm gián đoạn toàn bộ chuỗi thi công.

Trong khi đó, thị trường vật liệu xây dựng biến động mạnh, đặc biệt là cát san lấp, đá xây dựng và đất đắp nền. Việc khan hiếm nguồn cung và giá cả tăng cao khiến nhiều nhà thầu gặp khó khăn trong cân đối chi phí, dẫn đến thi công cầm chừng hoặc chờ điều chỉnh đơn giá.

Ngoài ra, công tác phối hợp giữa các sở ngành, địa phương và chủ đầu tư chưa thực sự đồng bộ. Một số quy trình hành chính còn kéo dài qua nhiều tầng nấc, trong khi quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy ở một số đơn vị cũng ảnh hưởng đến tính liên tục trong điều hành dự án.

Siết kỉ luật, tái cơ cấu vốn

Theo Thạc sĩ Nguyễn Minh Đồng, việc giải ngân vốn đầu tư công tại TP.HCM có “điểm nghẽn” lớn nhất trong đầu tư công hiện nay là trách nhiệm thực thi và khâu giải phóng mặt bằng. Đây đều là những yếu tố mang tính quyết định đến tốc độ triển khai dự án, nhưng lại thường bị kéo dài do tâm lý an toàn và cơ chế phối hợp chưa đủ mạnh.

Một góc TP.HCM
Một góc TP.HCM. Ảnh: HH

Trước hết, chính quyền TP.HCM cần đề xuất thay thế người đứng đầu hoặc đơn vị phụ trách nếu dự án không có chuyển biến trong vòng 3 tháng. Cách tiếp cận này nhấn mạnh nguyên tắc “không hiệu quả thì thay thế”, thay vì kéo dài tình trạng trì trệ. Trong thực tế, nhiều dự án chậm tiến độ không phải vì thiếu vốn hay thiếu thiết kế, mà do thiếu quyết liệt trong tổ chức thực hiện. “Khi trách nhiệm không được cá thể hóa rõ ràng, tiến độ dễ bị phân tán và khó kiểm soát. Tuy nhiên, để áp dụng hiệu quả, cơ chế này cần đi kèm hệ thống đo lường minh bạch, tiêu chí đánh giá cụ thể theo từng giai đoạn. Nếu không, việc thay thế có thể trở thành giải pháp hành chính đơn thuần, chưa chắc tạo ra cải thiện thực chất”, ông Đồng nói.

Theo ông Đồng, đề xuất này hướng đến việc tăng áp lực trách nhiệm cá nhân trong bộ máy thực thi. Điều này phù hợp với đặc thù đầu tư công, nơi tiến độ phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp giữa nhiều cấp, nhiều ngành. Khi người đứng đầu chịu áp lực rõ ràng về kết quả, khả năng thúc đẩy tiến độ sẽ cao hơn.

Về giải phóng mặt bằng, ông Đồng cho rằng cần minh bạch hóa cơ chế định giá đất và mở rộng vai trò của các đơn vị độc lập trong thẩm định. Hiện nay, một trong những nguyên nhân phổ biến gây chậm dự án là chênh lệch kỳ vọng giá bồi thường giữa người dân và cơ quan quản lý. Khi việc định giá chỉ dựa trên cơ quan nhà nước, dễ phát sinh tâm lý nghi ngờ, dẫn đến khiếu nại kéo dài.

Trước thực trạng này, TP.HCM đang triển khai 3 nhóm giải pháp. Trước hết, cơ chế “Thẻ vàng – Thẻ đỏ” đối với đơn vị chậm giải ngân là một công cụ quản trị dựa trên cảnh báo và ràng buộc trách nhiệm. Điểm mạnh của cơ chế này nằm ở tính minh bạch và khả năng tạo áp lực trực tiếp lên người đứng đầu. Khi tiến độ giải ngân được lượng hóa và so sánh liên tục, các đơn vị buộc phải chủ động hơn thay vì chờ nhắc nhở. Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc rất lớn vào việc đo lường chính xác, cập nhật dữ liệu kịp thời và đặc biệt là tính nghiêm trong xử lý sau cảnh báo. Nếu chỉ dừng ở mức “nhắc nhở hành chính”, công cụ này sẽ khó tạo ra thay đổi thực chất.

Thứ hai, việc tái cơ cấu và điều chuyển vốn giữa các dự án thể hiện tư duy “vốn chạy theo tiến độ”, thay vì để vốn nằm chờ dự án. Đây là giải pháp mang tính thị trường hơn trong quản lý đầu tư công, giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng ngân sách. Dự án nào giải ngân tốt, có năng lực hấp thụ vốn sẽ được ưu tiên bổ sung; ngược lại, dự án chậm sẽ bị cắt giảm hoặc thu hồi vốn. Tuy nhiên, giải pháp này cũng đòi hỏi năng lực đánh giá dự án chính xác, tránh tình trạng điều chuyển cảm tính hoặc gây xáo trộn cho các dự án dài hạn nhưng có tính chất phức tạp như bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Thứ ba, tập trung nguồn lực cho các dự án trọng điểm như Vành đai 3, Metro số 2 hay cao tốc TP.HCM – Mộc Bài là lựa chọn mang tính “đòn bẩy”. Đây là những dự án có quy mô vốn lớn, khi được đẩy nhanh sẽ tạo ra khối lượng giải ngân đáng kể, góp phần kéo tỷ lệ chung của toàn thành phố lên. Đồng thời, đây cũng là các công trình có tác động lan tỏa mạnh đến liên kết vùng và năng lực cạnh tranh dài hạn. Tuy nhiên, rủi ro nằm ở chỗ nếu quá tập trung vào một số dự án lớn, các dự án nhỏ có thể bị chậm lại, làm mất tính cân đối trong phát triển hạ tầng.

Để hoàn thành mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được yêu cầu coi việc hoàn thành kế hoạch giải ngân đầu tư công là “mệnh lệnh chính trị”, gắn với trách nhiệm người đứng đầu từng đơn vị. Tinh thần chỉ đạo được xác định rõ: không đổ lỗi cho khách quan, không chậm trễ trong thực thi và phải đảm bảo có sản phẩm đầu ra cụ thể. Thành phố đặt mục tiêu đến hết quý II/2026 đạt 40–45% kế hoạch, quý III đạt tối thiểu 70% và cuối năm phải giải ngân 100% vốn được giao, trong đó không chấp nhận tỷ lệ dưới 95%.

Nổi bật
      Mới nhất
      TP.HCM và 'mệnh lệnh' đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO