Kinh tế

Xuất nhập khẩu của Việt Nam lần đầu tiên vượt 1.000 tỷ USD, vẫn còn những thách thức

Đình Long • 07/11/2026 17:45

Trung Quốc, quốc gia láng giềng lớn của Việt Nam, đã thành công trong việc giảm tỷ trọng FDI trong xuất khẩu từ 58% năm 2005 xuống còn 27% năm 2024. Đồng thời, nâng tỷ trọng xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước lên 65%.

Số liệu vừa được Cục Thống kê thuộc Bộ Tài chính công bố cho thấy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong 10 tháng năm 2026 đạt hơn 1.000 tỷ USD, tăng hơn 32% so với cùng kỳ năm trước. Đây là lần đầu tiên hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay.

Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD là dấu mốc quan trọng, khẳng định mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam. Tuy nhiên, phía sau con số kỷ lục vẫn là những thách thức về giá trị gia tăng, tỷ lệ nội địa hóa, sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp trong nước.

Phóng viên Tạp chí Một Thế Giới đã trao đổi với Thạc sĩ Phan Minh Hòa và Tiến sĩ Adeel Ahmed, giảng viên ngành Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam, về những vấn đề này.

Giá trị thực chất phía sau cột mốc 1.000 tỷ USD

-Phóng viên: Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị thế trong mạng lưới thương mại quốc tế, thể hiện rõ nhất qua con số kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu vượt mốc 1.000 tỷ USD. Nhưng nhiều ý kiến cho rằng, quy mô xuất nhập khẩu lớn chưa đồng nghĩa với năng lực nội sinh và giá trị kinh tế được giữ lại trong nước tương xứng. Bà nghĩ gì về quan điểm này?

ThS Phan Minh Hòa - ĐH RMIT
Thạc sĩ Phan Minh Hòa, giảng viên ngành Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam

Thạc sĩ Phan Minh Hòa: Tổng kim ngạch thương mại hàng hóa của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước và lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD.

So với mức khiêm tốn khoảng 100 tỷ USD vào năm 2007, đây là minh chứng rõ nét cho quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng và vai trò ngày càng lớn của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.

Cột mốc này đạt được nhờ hoạt động kinh doanh và nhu cầu thị trường phục hồi, tác động tích cực từ nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã triển khai, cùng nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thích ứng với những bất ổn toàn cầu hiện nay.

“

Phía sau con số kỷ lục vẫn là những thách thức về giá trị gia tăng, tỷ lệ nội địa hóa, sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp trong nước.

-Trong 10 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu tăng 37,6%, cao hơn đáng kể mức tăng 27,4% của xuất khẩu. Theo bà, điều này chủ yếu phản ánh nhu cầu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất trong nước hay cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc ngày càng lớn vào nguồn cung từ bên ngoài?

-Thạc sĩ Phan Minh Hòa: Mức chênh lệch đáng kể giữa tốc độ tăng trưởng nhập khẩu (37,6%) và xuất khẩu (27,4–27,5%) trong 10 tháng đầu năm 2026 phản ánh đồng thời hai diễn biến vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của nhau. Nhập khẩu tăng mạnh là điều cần thiết để phục vụ sản xuất, nhưng cơ cấu hàng nhập khẩu lại cho thấy sự phụ thuộc mang tính cấu trúc của Việt Nam vào các chuỗi giá trị bên ngoài.

Trước hết, nhập khẩu tăng chủ yếu do hoạt động mở rộng sản xuất, thay vì nhu cầu tiêu dùng trong nước. Hơn 94% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất, hàng hóa tư liệu sản xuất, máy móc và linh kiện trung gian.

Hoạt động này cũng mang tính mùa vụ: Thâm hụt thương mại của Việt Nam thường tăng trong ba quý đầu năm, khi doanh nghiệp tích trữ đầu vào để phục vụ các đơn hàng lớn vào cuối năm. Sau đó, thu hẹp đáng kể trong quý IV, khi hàng hóa được giao vào mùa mua sắm cao điểm.

Quy luật này thể hiện rõ hơn trong năm nay, khi cán cân thương mại liên tục thâm hụt từ quý I đến hết tháng 8, có thời điểm lên tới 20,4 tỷ USD, trước khi cải thiện đáng kể trong tháng 9 và đặc biệt là tháng 10, đưa mức thâm hụt xuống còn 12,07 tỷ USD.

Tuy nhiên, xét về dài hạn, các con số thực tế cho thấy điểm yếu dai dẳng của Việt Nam trong nội địa hóa chuỗi cung ứng. Việt Nam chưa thể mở rộng quy mô sản xuất mà không gia tăng sự phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài.

Cơ cấu nhập khẩu vẫn tập trung lớn vào các thị trường cung ứng linh kiện công nghệ cao và nguyên vật liệu, chẳng hạn chip hiệu năng cao, nhựa kỹ thuật chính xác và vải chuyên dụng. Thực tế này khiến thâm hụt thương mại song phương với Trung Quốc lên gần 135 tỷ USD và với Hàn Quốc lên 48,6 tỷ USD trong cùng kỳ 10 tháng.

Sự hạn chế kéo dài này khiến phần giá trị được giữ lại trong nước bị thu hẹp, đồng thời khiến Việt Nam đặc biệt dễ bị tổn thương khi giá đầu vào trên thị trường toàn cầu tăng.

hinh1-kcnc.jpg
Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD là dấu mốc quan trọng, khẳng định mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam. Ảnh: QH

Doanh nghiệp nội địa vẫn yếu thế trong chuỗi cung ứng

-Thực tế cho thấy khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong hoạt động xuất nhập khẩu, trong khi doanh nghiệp trong nước vẫn có quy mô và năng lực tham gia chuỗi cung ứng còn hạn chế. Đây là thực trạng tồn tại nhiều năm. Theo bà, đâu là nguyên nhân căn bản khiến doanh nghiệp Việt Nam chưa thể trở thành lực lượng dẫn dắt xuất khẩu?

-Thạc sĩ Phan Minh Hòa: Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hiện chiếm hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và tỷ trọng này được dự báo sẽ tiếp tục duy trì. Năng lực xuất khẩu và thặng dư thương mại vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực FDI, trong khi các doanh nghiệp trong nước thường xuyên ghi nhận thâm hụt thương mại.

Các doanh nghiệp FDI cũng nắm giữ những mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp chủ lực, chiếm ưu thế ở những công đoạn tạo ra giá trị cao, trong khi doanh nghiệp nội địa chủ yếu tập trung vào các phân khúc có giá trị gia tăng thấp.

Trong khi đó, Trung Quốc, quốc gia láng giềng lớn của Việt Nam, đã thành công trong việc giảm tỷ trọng FDI trong xuất khẩu từ 58% năm 2005 xuống còn 27% năm 2024, đồng thời nâng tỷ trọng xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước lên 65%.

Thực trạng này xuất phát từ nhiều yếu tố, bao gồm những hạn chế nội tại của doanh nghiệp, cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay và các chính sách phát triển công nghiệp.

Thứ nhất, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ, do đó gặp khó khăn trong việc đáp ứng các đơn hàng số lượng lớn cũng như duy trì chất lượng ổn định, đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Các doanh nghiệp trong nước chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng, vốn thường có kỳ hạn ngắn và yêu cầu tài sản thế chấp, khiến khả năng đầu tư vào máy móc và công nghệ bị hạn chế. Khoảng cách đáng kể về công nghệ và kỹ năng cũng cản trở doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị.

Thứ hai, Việt Nam công nghiệp hóa muộn hơn so với các nước láng giềng, khiến chúng ta ở vị thế của một quốc gia đi sau. Các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) thường đưa theo những nhà cung ứng đã có sẵn từ quốc gia sở tại, khiến cơ hội tham gia của doanh nghiệp trong nước bị thu hẹp và các doanh nghiệp này thường chỉ nhận được biên lợi nhuận thấp.

“

Năng lực xuất khẩu và thặng dư thương mại vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực FDI, trong khi các doanh nghiệp trong nước thường xuyên ghi nhận thâm hụt thương mại.

Thạc sĩ Phan Minh Hòa

FTA mở cửa thị trường nhưng chưa đủ để nâng cao năng lực sản xuất

-Việt Nam đã ký kết và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), nhưng tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng của nhiều mặt hàng xuất khẩu vẫn còn hạn chế. Theo ông, đâu là nguyên nhân chính và những điểm nghẽn nào đang cản trở doanh nghiệp tận dụng lợi ích từ các FTA?

-Tiến sĩ Adeel Ahmed, giảng viên ngành Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam: Mạng lưới FTA rộng khắp của Việt Nam, bao gồm CPTPP, EVFTA và RCEP, đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện khả năng tiếp cận thị trường và gia tăng sức hấp dẫn của Việt Nam như một trung tâm đầu tư định hướng xuất khẩu.

Tuy nhiên, dù mở ra nhiều cơ hội thị trường, các FTA không tự động nâng cao năng lực sản xuất trong nước – yếu tố cần thiết để khai thác tối đa những cơ hội này.

TS Adeel Ahmed - ĐH RMIT
Tiến sĩ Adeel Ahmed, giảng viên ngành Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam

Một thách thức lớn là sự phụ thuộc của Việt Nam vào nguyên liệu và linh kiện trung gian nhập khẩu. Trong các ngành như dệt may và điện tử, năng lực sản xuất trong nước còn hạn chế đối với những nguyên vật liệu và linh kiện thiết yếu, từ đó làm giảm khả năng tạo ra giá trị trong nước và gây khó khăn cho việc đáp ứng một số quy tắc xuất xứ ưu đãi.

Tuy nhiên, việc sử dụng đầu vào nhập khẩu không nhất thiết cản trở doanh nghiệp tận dụng các FTA, đặc biệt khi các hiệp định có quy định về cộng gộp xuất xứ trong khu vực.

Một thách thức khác là năng lực công nghệ và sản xuất của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Ngay cả khi được hưởng lợi từ các ưu đãi tiếp cận thị trường, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, phát triển bền vững về môi trường, khả năng truy xuất nguồn gốc và tiến độ giao hàng.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ thường thiếu nguồn lực tài chính và hành chính cần thiết để tìm hiểu và tuân thủ những yêu cầu phức tạp của các FTA.

“

FTA tạo điều kiện tiếp cận thị trường quốc tế, nhưng mức độ giá trị kinh tế mà Việt Nam có thể thu được từ những cơ hội này phụ thuộc vào năng suất và năng lực sản xuất trong nước

Tiến sĩ Adeel Ahmed

Do đó, tự do hóa thương mại cần đi đôi với các chính sách phát triển công nghiệp trong nước, bao gồm đầu tư vào các ngành công nghiệp hỗ trợ, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ kiểm định và chứng nhận, cũng như mạng lưới nhà cung ứng.

FTA tạo điều kiện tiếp cận thị trường quốc tế, nhưng mức độ giá trị kinh tế mà Việt Nam có thể thu được từ những cơ hội này phụ thuộc vào năng suất và năng lực sản xuất trong nước.

hinh3-kcnc.jpg
Tự do hóa thương mại cần đi đôi với các chính sách phát triển công nghiệp trong nước. Ảnh: QH

Từ tăng kim ngạch đến làm chủ giá trị trong chuỗi toàn cầu

-Vậy để biến cột mốc 1.000 tỷ USD thành động lực phát triển thực chất, thay vì chỉ chạy theo quy mô kim ngạch, Việt Nam cần ưu tiên thay đổi điều gì trong chính sách xuất nhập khẩu, thu hút FDI và phát triển công nghiệp hỗ trợ?

-Tiến sĩ Adeel Ahmed: Việt Nam cần từng bước chuyển đổi mô hình phát triển từ tập trung vào quy mô thương mại sang ưu tiên tạo ra giá trị trong nước, nâng cao năng suất và thúc đẩy tiến bộ công nghệ.

Thứ nhất, chính sách thương mại cần mở rộng hệ thống chỉ tiêu đánh giá, không chỉ giới hạn ở tổng kim ngạch xuất khẩu mà còn bao gồm giá trị gia tăng trong nước, mức độ phức tạp của hàng hóa xuất khẩu, tăng trưởng năng suất và mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thứ hai, Việt Nam cần triển khai chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo định hướng phát triển rõ nét hơn. Bên cạnh việc tiếp tục thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cần chú trọng hơn đến chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D), việc làm đòi hỏi kỹ năng cao và hợp tác với các nhà cung ứng trong nước.

Các ưu đãi đầu tư nên ngày càng hướng đến những hoạt động giúp nâng cao năng lực công nghiệp nội địa, đồng thời bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế.

Thứ ba, công nghiệp hỗ trợ cần trở thành một trọng tâm trong chiến lược phát triển. Việt Nam cần xây dựng mạng lưới nhà cung ứng trong nước có năng lực cạnh tranh, chuyên cung cấp linh kiện, nguyên vật liệu công nghiệp, máy móc và các dịch vụ chuyên biệt.

Điều này đòi hỏi đầu tư đồng bộ vào giáo dục kỹ thuật, cơ sở kiểm định, hạ tầng công nghiệp và các chương trình phát triển nhà cung ứng.

“

Một chính sách thương mại hiệu quả cần tối đa hóa thu nhập, việc làm, công nghệ và năng lực sản xuất trong nước được tạo ra từ hoạt động thương mại quốc tế

Tiến sĩ Adeel Ahmed

xk-buoi.jpg
Trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến thực phẩm, doanh nghiệp có thể tạo ra nhiều giá trị hơn thông qua chế biến sâu, khác biệt hóa sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển thương hiệu có uy tín. Ảnh: QH

Tuy nhiên, nội địa hóa không nên trở thành mục tiêu tự thân. Việc thay thế các đầu vào nhập khẩu có hiệu quả bằng những sản phẩm trong nước có chi phí cao hơn có thể làm suy giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu. Trọng tâm cần là nội địa hóa có tính cạnh tranh, trong đó các nhà cung ứng Việt Nam nâng cao mức độ tham gia thông qua việc cải thiện năng suất, đổi mới sáng tạo và độ tin cậy.

Cuối cùng, một chính sách thương mại hiệu quả cần tối đa hóa thu nhập, việc làm, công nghệ và năng lực sản xuất trong nước được tạo ra từ hoạt động thương mại quốc tế.

-Thách thức lớn của Việt Nam trong giai đoạn tới không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu. Nó còn phải chuyển từ vị thế một mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thành nền kinh tế có khả năng tham gia sâu hơn, chủ động hơn và tạo ra giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Theo ông, Việt Nam cần những điều kiện, năng lực và bước đi đột phá nào để thực hiện sự chuyển đổi này? Đâu là những lĩnh vực hoặc công đoạn mà doanh nghiệp Việt Nam cần ưu tiên làm chủ?

-Tiến sĩ Adeel Ahmed: Thách thức phát triển của Việt Nam là chuyển từ việc tham gia vào các mạng lưới sản xuất toàn cầu sang nắm giữ phần giá trị lớn hơn thông qua công nghệ, đổi mới sáng tạo và các hoạt động có năng suất cao hơn.

Để làm được điều này, Việt Nam cần đạt được ba bước tiến: phát triển năng lực công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và củng cố năng lực của doanh nghiệp trong nước.

Việt Nam cần đầu tư vào nghiên cứu ứng dụng, kỹ thuật và đổi mới sáng tạo trong công nghiệp, đồng thời thúc đẩy hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần phát triển đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên và nhà quản lý có đủ năng lực hỗ trợ hoạt động sản xuất tiên tiến.

Việc lựa chọn các ngành ưu tiên cần dựa trên những thế mạnh công nghiệp hiện có. Trong lĩnh vực điện tử, trọng tâm cần chuyển từ lắp ráp sang sản xuất linh kiện, kỹ thuật chính xác, kiểm định và thiết kế. Với ngành dệt may và da giày, cơ hội nằm ở phát triển vật liệu tiên tiến, thiết kế và phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu và phân phối.

Trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến thực phẩm, doanh nghiệp có thể tạo ra nhiều giá trị hơn thông qua chế biến sâu, khác biệt hóa sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển thương hiệu có uy tín. Các ngành máy móc, linh kiện công nghiệp và dịch vụ logistics cũng cần được chú trọng vì chúng tạo ra mối liên kết giữa nhiều ngành kinh tế.

“

Thách thức phát triển của Việt Nam là chuyển từ việc tham gia vào các mạng lưới sản xuất toàn cầu sang nắm giữ phần giá trị lớn hơn thông qua công nghệ, đổi mới sáng tạo và các hoạt động có năng suất cao hơn

Tiến sĩ Adeel Ahmed

Phân tích đầu vào – đầu ra (input-output analysis) có thể giúp xác định những ngành có mối liên kết ngược và liên kết xuôi với các ngành khác. Tuy nhiên, việc lựa chọn ngành ưu tiên cũng cần xem xét tính khả thi về công nghệ, nhu cầu thị trường và năng lực cạnh tranh.

Việt Nam không nhất thiết phải tự sản xuất mọi thứ trong nước. Thay vào đó, cần phát triển năng lực ở những lĩnh vực mà doanh nghiệp Việt Nam có thể đạt được lợi thế cạnh tranh và nắm giữ phần giá trị lớn hơn. Cuối cùng, quá trình chuyển đổi này cần được đánh giá dựa trên tri thức, công nghệ, năng suất và giá trị trong nước mà Việt Nam đóng góp vào hoạt động sản xuất toàn cầu.

Xin cảm ơn hai giảng viên Đại học RMIT Việt Nam!

Nổi bật
      Mới nhất
      Xuất nhập khẩu của Việt Nam lần đầu tiên vượt 1.000 tỷ USD, vẫn còn những thách thức
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO