Nhịp đập công nghệ

Đào tạo nhân lực bán dẫn: Kinh nghiệm trường - viện - nhà máy từ Đức

Minh Trí • 14/10/2026 15:08

TS. Hà Thúc Viên, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Việt Đức (VGU), cho rằng mô hình hợp tác ba bên giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp sẽ giúp tạo ra người tốt nghiệp sẵn sàng làm việc, với nền tảng vững, năng lực kĩ thuật chất lượng và khả năng học tập suốt đời.

Trình bày trong phiên thảo luận về giáo dục, nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực của hội nghị chuyên sâu về vật liệu mới cho ngành bán dẫn tại Hội nghị SemiConnect 2026, ông kiến nghị Nhà nước không nên cấp ngân sách để mỗi trường đại học tự xây dựng mọi thứ, mà cần tính đến liên kết giữa các trường theo thế mạnh.

Theo ông Viên, qua khảo sát nhu cầu nhân lực, điểm cần lưu ý đầu tiên là kĩ thuật bán dẫn không chỉ dừng lại ở thiết kế vi mạch. Chiến lược nhân lực phải bao phủ cả thiết kế, kiểm thử, đóng gói, thiết bị sản xuất và ứng dụng.

ĐH Việt Đức bán dẫn giáo dục
TS Hà Thúc Viên, Phó Hiệu trưởng VGU. Ảnh: M.T

Để có đủ người cho chuỗi này, các trường còn phải đào tạo những ngành hỗ trợ như kĩ thuật điện, khoa học máy tính, vật lí, quang học, khoa học vật liệu, cơ khí và cơ điện tử. Nhân lực cũng phải được phân tầng rõ, từ cán bộ kĩ thuật, cử nhân, thạc sĩ đến tiến sĩ, mỗi bậc gắn với vị trí việc làm cụ thể.

TS Hà Thúc Viên đặc biệt nhấn mạnh bậc tiến sĩ. Theo ông, nghiên cứu sinh hôm nay sẽ là giảng viên dạy bán dẫn trong các trường và là đội ngũ nghiên cứu cho ngành sau này.

Quyết định 1017/QĐ-TTg ngày 21/9/2024 của Thủ tướng đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực bán dẫn trình độ đại học trở lên. Con số này gồm 42.000 kĩ sư, cử nhân; 7.500 thạc sĩ và 500 tiến sĩ, kèm đào tạo chuyên sâu cho 1.300 giảng viên. Dù vậy, ông Viên cho rằng bên cạnh mở rộng quy mô, cần định hình rõ vai trò của trường đại học trong thực hiện mục tiêu này.

Điểm nghẽn mà ông Viên chỉ ra nằm ở cách các trường đầu tư. Theo ông, gần như trường nào cũng theo xu thế tự phát triển mọi lĩnh vực đào tạo liên quan đến bán dẫn, từ hạ tầng, phòng thí nghiệm đến đội ngũ giảng viên. "Không một trường đại học nào có thể phát triển toàn diện tất cả các lĩnh vực", ông nói.

Cũng theo Quyết định 1017, 18 trường đại học công lập ở ba miền được ưu tiên xem xét đầu tư phòng thí nghiệm bán dẫn bằng ngân sách nhà nước, trong đó có Trường Đại học Việt Đức. Vì vậy, ông Viên kiến nghị khi cấp tài chính cho các trường, Nhà nước cần tính toán sự liên kết dựa trên thế mạnh của từng nơi. Ngoài vốn đầu tư ban đầu, các trường cũng cần nguồn lực liên tục để vận hành, như chi phí phần mềm.

Ông cũng chỉ ra năm khoảng cách giữa nhà trường và thực tế: kĩ năng thực hành chuyên sâu trên công cụ thiết kế; hiểu biết về các lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam sẽ phát triển; tỉ lệ hợp lí giữa các bậc đào tạo; năng lực chuyên sâu; và tiếng Anh. Theo ông, bán dẫn là lĩnh vực đòi hỏi người học phải rất xuất sắc.

Ông dẫn lời một hiệu trưởng ở Đài Loan (Trung Quốc) rằng trong ngành này, trường phải tuyển sinh viên xuất sắc ở mọi bậc, "nếu không thì không thể tiếp cận một lĩnh vực công nghệ khó như vậy".

Giảng viên phải từng làm trong nhà máy

Theo TS Hà Thúc Viên, giảng viên ngành kĩ thuật cần vừa có nền tảng học thuật, vừa có kinh nghiệm công nghiệp. Tại Trường Đại học Việt Đức, ứng viên giảng viên ngoài bằng tiến sĩ phải có 3-5 năm làm việc trong doanh nghiệp.

Ông kiến nghị giảng viên được chia thời gian làm việc giữa trường đại học và viện nghiên cứu. Bên cạnh đó, ông đề xuất cứ khoảng 5 năm giảng dạy, giảng viên trường kĩ thuật nên có một năm làm việc trong doanh nghiệp, tương tự kinh nghiệm của Đức. "Xu thế phát triển công nghệ trong các tập đoàn hiện nhanh hơn cả nghiên cứu trong trường đại học", ông lí giải.

Bài học Đức: trường, viện và nhà máy cùng đào tạo

Phần lớn các đề xuất trên được TS Hà Thúc Viên rút ra từ hệ thống giáo dục và công nghiệp Đức. Nền tảng đầu tiên là "triết lí Humboldt", coi giảng dạy và nghiên cứu là một thể thống nhất trong trường đại học. Trên nền tảng đó, Đức vận hành mô hình hợp tác ba bên giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, mỗi bên giữ một vai trò riêng.

Theo ông Viên, trường đại học chịu trách nhiệm kiến thức nền tảng, văn bằng, nghiên cứu, chương trình đào tạo và bảo đảm chất lượng. "Trường đại học không thể đào tạo tất cả năng lực và kiến thức mà công nghiệp cần, mà chỉ phát triển trên một nền tảng cơ bản", ông nói. Phần còn lại do viện nghiên cứu và doanh nghiệp đảm nhận.

Ở mắt xích thứ hai, hệ thống viện nghiên cứu ứng dụng Fraunhofer thường đặt ngay cạnh trường đại học. Hai bên dùng chung phòng thí nghiệm theo cả hai chiều, viện nhận sinh viên thực tập, làm nghiên cứu, còn giáo sư vừa giảng dạy ở trường vừa dẫn dắt nhóm nghiên cứu ở viện.

Mắt xích thứ ba là nhà máy. Doanh nghiệp Đức sẵn sàng nhận sinh viên thực tập, bố trí những người đóng vai trò như thầy giáo để hướng dẫn, và những người này phải có năng lực sư phạm. Sau kì thực tập, doanh nghiệp phản hồi về năng lực của sinh viên cho nhà trường, rồi tuyển dụng những người phù hợp.

Theo ông Viên, mô hình này tạo ra người tốt nghiệp sẵn sàng làm việc, với nền tảng vững, năng lực kĩ thuật, văn hóa chất lượng và khả năng học tập suốt đời. VGU đang áp dụng cách làm này. Từ năm 2019, trường đưa một số module chuyên đề vào chương trình kĩ thuật, rồi phát triển dần thành các chương trình từ cử nhân đến tiến sĩ, gửi sinh viên sang Đức học năm cuối.

Để khép vòng phản hồi này ở Việt Nam, TS Hà Thúc Viên đề xuất xây dựng hệ thống đánh giá sinh viên 12 tháng sau tốt nghiệp. Theo ông, đây là dữ liệu để trường đại học liên tục điều chỉnh chương trình, giúp sinh viên sẵn sàng cho công việc ngay khi ra trường.

Nổi bật
      Mới nhất
      Đào tạo nhân lực bán dẫn: Kinh nghiệm trường - viện - nhà máy từ Đức
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO