Giấc mơ hạ lãi suất cho vay có trở thành hiện thực?
Thực tế, các ngân hàng vẫn phải cạnh tranh huy động vốn thông qua tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi và các kênh vốn khác, nên mặt bằng chi phí vốn chưa thể giảm nhanh.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8, diễn ra vào đầu tháng 9, thanh khoản trong ngắn hạn của hệ thống ngân hàng được cải thiện; huy động vốn bằng VNĐ tính đến ngày 22-8 đã tăng 8,77% so với đầu năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng VNĐ, đạt 8,38%.
Dư địa giảm lãi suất còn hạn chế
Nếu xu hướng này tiếp tục duy trì, áp lực cạnh tranh huy động vốn giữa các ngân hàng có thể giảm xuống, qua đó tạo điều kiện để mặt bằng tiền gửi hạ nhiệt.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng dù thanh khoản hệ thống đã có dấu hiệu cải thiện khi tốc độ tăng huy động vốn vượt tăng trưởng tín dụng, nhưng khoảng cách chênh lệch giữa hai chiều vẫn chưa lớn.
Điều này cho thấy áp lực về nguồn vốn của các ngân hàng chưa hoàn toàn được giải tỏa, trong khi nhu cầu tín dụng được dự báo tiếp tục gia tăng vào những tháng cuối năm.
Chuyên gia kinh tế, TS. Lê Bá Chí Nhân nhận đinh: Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đã giảm so với giai đoạn trước. Song, không nên đồng nhất việc huy động vốn tăng nhanh hơn tín dụng với việc lãi suất cho vay sẽ lập tức đi xuống.
Bởi nó phụ thuộc vào chi phí đầu vào, thanh khoản từng ngân hàng, chất lượng tín dụng, mức độ cạnh tranh và đặc biệt là rủi ro của từng nhóm khách hàng.
Thực tế, các ngân hàng vẫn phải cạnh tranh huy động vốn thông qua tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi và các kênh vốn khác, nên mặt bằng chi phí vốn chưa thể giảm nhanh.

“Tôi cho rằng từ nay đến cuối năm, xu hướng hợp lý hơn là lãi suất cho vay ổn định hoặc giảm nhẹ theo hướng có chọn lọc, chứ không có chuyện giảm sâu trên diện rộng. Những lĩnh vực được ưu tiên, doanh nghiệp có dòng tiền tốt, phương án kinh doanh khả thi và khả năng trả nợ cao sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận mức lãi suất tốt hơn”, TS Nhân nêu quan điểm.
Cũng theo TS Nhân, ở tầm vĩ mô, điều quan trọng nhất là duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa không tạo áp lực lên tỷ giá, lạm phát và thanh khoản hệ thống.
Lãi suất cho vay cao bào mòn sức chống chịu của doanh nghiệp
Nếu huy động vốn tiếp tục tăng nhanh hơn tín dụng trong những tháng tới, cùng với việc thị trường vốn được mở rộng, dư địa giảm chi phí vốn sẽ rõ hơn.
Khi đó, giảm lãi suất cho vay không chỉ là giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp mà còn là một trong những điều kiện quan trọng để kích thích đầu tư, tiêu dùng và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, mặt bằng lãi suất cho vay khó giảm nhanh, thậm chí một số khoản vay đã được điều chỉnh tăng, khiến áp lực chi phí vốn ngày càng hiện hữu đối với doanh nghiệp và người vay.
Thực tế, với doanh nghiệp điều khiến họ lo lắng lúc này không chỉ nằm ở việc có tiếp cận được vốn ngân hàng hay không, mà còn là có đủ sức gánh chịu áp lực với mức lãi suất hiện tại hay không, nhất là khi sức mua suy yếu và lợi nhuận ngày càng thu hẹp.
Ông Đặng Văn Khanh, Giám đốc Công ty Đầu tư Xây dựng và Dịch vụ Hải Hưng, cho biết, doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư thì mục tiêu cuối cùng vẫn phải là lợi nhuận. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh doanh khó khăn, mức lợi nhuận khoảng 10–15% đã được xem là khá tích cực.
Theo ông Khanh, lãi suất cho vay hiện vẫn ở mức cao. Lãi suất các khoản vay ngắn hạn tại một số ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân hiện dao động quanh 12–13%/năm.
Với những doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào vốn vay, chi phí lãi vay ở mức này đã bào mòn đáng kể lợi nhuận. Nếu cộng thêm hàng loạt chi phí vận hành như tiền lương, thuê văn phòng, điện nước, thuế và các khoản chi phí đầu vào khác, phần lợi nhuận thực tế còn lại của doanh nghiệp rất thấp, thậm chí có thể chỉ đủ để duy trì hoạt động.
Đáng lo hơn cả là hiện doanh nghiệp của ông ghi nhận sức tiêu thụ sản phẩm giảm mạnh so với cùng kỳ năm ngoái. Do đó, với mức lãi suất cho vay cao như hiện nay thì để doanh nghiệp tồn tại thì buộc phải dùng đến dòng vốn tích lũy trong suốt vài năm trước, nhưng không biết có thể cầm cự được đến lúc nào.
“Tất nhiên, tôi cũng hiểu rằng việc lãi suất tăng cao không phải mong muốn của ngân hàng mà nó đến từ nhiều yếu tố, trong đó có tác động của yếu tố địa chính trị, giá năng lượng, giá USD… Song điều quan tâm lớn nhất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như chúng tôi là Nhà nước làm sao để tăng sức tiêu thụ của nền kinh tế. Bởi sức cầu yếu thì dù ngân hàng có cho vay lãi suất thấp cũng chả muốn vay”, ông Khanh cho biết thêm.
Tương tự, chị Thu An (Đắk Lắk) cho biết, chị vừa đáo hạn khoản vay 700 triệu đồng phục vụ thu mua nông sản, với lãi suất gần 10%/năm. Khi vay lại, chị chủ động trả bớt 100 triệu đồng, đưa dư nợ xuống còn 600 triệu đồng. Tuy nhiên, do lãi suất khoản vay mới tăng lên 11,8%/năm, số tiền lãi phải trả hàng tháng không những không giảm theo dư nợ mà còn tăng lên.
“Trước đây, với khoản vay 700 triệu đồng, mỗi tháng tôi trả khoảng 5,3 triệu đồng tiền lãi. Nay dư nợ chỉ còn 600 triệu đồng nhưng tiền lãi hàng tháng lại tăng lên khoảng 6,2 triệu đồng”, chị Thu An chia sẻ.
Theo chị Thu An, điều khiến người vay chịu thêm áp lực là dù đã chủ động giảm dư nợ 100 triệu đồng, phần tiết giảm từ quy mô khoản vay vẫn không đủ bù mức tăng của lãi suất, khiến chi phí trả lãi hàng tháng thực tế cao hơn trước.
Đáng chú ý, theo phản ánh của chị Thu An, khi ký hợp đồng vay mới với lãi suất 11,8%/năm, chị phải mua thêm sản phẩm bảo hiểm khoản vay với mức phí 3 triệu đồng, cộng thêm 1,1 triệu đồng phí thẩm định hồ sơ cho khoản vay được tái cấp sau khi đáo hạn.

Lãi suất cho vay cao kéo dài làm khó doanh nghiệp
Nhận định về sức chống chịu của doanh nghiệp trong thời gian tới, TS Nhân cho rằng: Nếu lãi suất cho vay không thể giảm trong thời gian tới, tác động lớn nhất sẽ không chỉ nằm ở chi phí tài chính tăng, mà là làm suy giảm khả năng phục hồi và mở rộng sản xuất của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh sức chống chịu của doanh nghiệp đã hạn chế, lãi suất cao kéo dài có thể khiến một bộ phận doanh nghiệp phải thu hẹp đầu tư, giảm tồn kho, trì hoãn tuyển dụng, thậm chí sử dụng dòng tiền để trả lãi thay vì tái đầu tư.
Đáng lưu ý, tác động này không đồng đều. Doanh nghiệp lớn, có tài sản bảo đảm, dòng tiền tốt còn khả năng thương lượng; trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp mới phục hồi sau khó khăn và các ngành có biên lợi nhuận thấp sẽ chịu áp lực lớn nhất.
Vì vậy, nếu mặt bằng lãi suất chưa thể giảm trên diện rộng thì chính sách cần chuyển từ tư duy “giảm lãi suất đồng loạt” sang giảm đúng đối tượng, đúng lĩnh vực và đúng mục tiêu tăng trưởng.
Đây cũng là hướng đang được đặt ra trong điều hành tín dụng. Từ tháng 8/2026, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu triển khai chương trình tín dụng dành cho DNNVV và các động lực tăng trưởng, trong đó lãi suất cho vay bằng VND thấp hơn tối thiểu 1 điểm phần trăm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng.
Ông Nhân cũng ch rằng, về dài hạn không nên chỉ trông chờ vào việc hạ lãi suất bằng mệnh lệnh hành chính. Muốn giảm bền vững chi phí vốn phải đồng thời tăng khả năng huy động vốn dài hạn, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp lành mạnh, thúc đẩy tín dụng xanh và tín dụng theo chuỗi giá trị, đồng thời nâng cao chất lượng quản trị và minh bạch tài chính của doanh nghiệp.
“Nói cách khác, lãi suất cao kéo dài là một lực cản đối với tăng trưởng, nhưng tín dụng rẻ mà không đi đúng vào khu vực tạo ra năng suất cũng không tạo được tăng trưởng bền vững. Bài toán chính sách hiện nay là làm sao đưa vốn đến đúng doanh nghiệp có khả năng tạo ra giá trị, việc làm và năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế”, TS Nhân nhấn mạnh.




