‘Nhà văn trẻ’ Xuân Phượng và những ngã rẽ ‘Chân cứng đá mềm’


- Trong Chân cứng đá mềm, hình ảnh Bác Hồ hiện lên như những ký ức thiêng liêng đặc biệt với bà. Điều gì ở Bác Hồ để lại trong bà ấn tượng sâu sắc nhất?
Nhà văn Xuân Phượng: Với tôi, đó là một con người rất đặc biệt. Bây giờ nhắc lại vẫn thấy rõ như mới hôm qua. Hồi ấy tôi ở khu B của ATK, tức an toàn khu của Chính phủ. Bác ở khu A. Muốn từ chỗ Bác sang chỗ chúng tôi phải lội qua một con suối. Hồi đó tôi không hiểu, chỉ nghĩ sao không làm một con đường thẳng mà lại đi vòng vèo, lội suối như vậy. Sau này mới hiểu đó cũng là một cách bảo vệ an toàn, để các trạm gác nhận ra người qua lại là ai.
ATK chia làm khu A và khu B. Khu A có Bác Hồ, ông Phạm Văn Đồng, ông Trường Chinh. Khu B là các bộ. Tôi ở khu B, phụ trách khối nữ công vào những năm 1946, 1947. Trong anh em khi đó đồn nhau rằng Cụ Hồ mà đến thăm thì rất sợ, vì Bác kiểm tra đầu tiên là hố xí, rồi mới đến nơi ăn ở, sinh hoạt. Trong rừng đói lắm, mệt lắm, mỗi ngày có một nắm cơm, một củ sắn. Nhiều người cứ thấy chỗ nào vắng thì đào một cái lỗ là xong. Nhưng Bác dặn phải hết sức sạch sẽ. Một là để tránh quân Pháp dò ra. Hai là người mình sống ở đâu cũng phải văn minh.
Khổ nỗi hồi đó làm gì có giấy vệ sinh. Chỉ có lá khô, lá chuối khô thôi. Hôm ấy lại là Chủ nhật, không đi làm nên ai cũng ngủ trễ. Tổ nữ của tôi có 12 người, ở trên nhà sàn. Chúng tôi đang nằm đắp chăn xui. Chăn xui là loại chăn làm từ vỏ cây, phải bóc vỏ, ngâm suối nhiều tháng, rồi nhờ người thiểu số đập cho mềm. Nó ngứa vô cùng nhưng vẫn phải dùng.
Đang ngủ thì bên dưới có người báo Bác Hồ đến. Quay lại thấy một ông đứng phía sau. Ông đội mũ len kín, chỉ hở mắt với mũi nên thoạt đầu không nhận ra. Bác nhìn một lúc rồi nói: “Đàn bà con gái mà lộn xộn như thế này, các cháu không xấu hổ à?”. Chúng tôi lúc ấy hết hồn, áo quần treo lung tung cả. Bác đi qua tổ nam thì bên ấy còn bẩn gấp mười lần.
Sau đó Bác vào nhà ăn. Hôm nghe tin Bác đến, ông quản lý ưu tiên xuất ra một nắm đậu phụng khô để nấu canh với măng chua cho anh chị em trong cơ quan. Còn ngày thường chủ yếu chỉ có sắn luộc với măng. Thức ăn đặt trên những ống bương, ống tre chẻ đôi làm đĩa. Bác nhìn mâm cơm, lắc đầu rồi hỏi: “Các cháu ăn thế này có được không?”. Anh em trả lời là được lắm. Bác nói Bác rất đau lòng, nhưng các con cứ yên tâm, khi nào đuổi được giặc Pháp ra khỏi đất nước thì các con sẽ được ăn ngon hơn rất nhiều. Tôi nhớ mãi câu đó và giờ đây được chứng kiến đất nước được như thế này, càng thấm thía lời Bác nói.
Sau khi đi thăm xong, Bác gọi ông Lê Văn Hiến, lúc ấy là Bộ trưởng Tài chính, lên và dặn phải giáo dục lại thanh niên, thanh nữ. Bác nói ăn ở lụn vụn như thế là tự khinh mình. Con người có thể nghèo, có thể đói, nhưng phải nhớ: “Đói cho sạch, rách cho thơm”. Câu đó đi với tôi suốt đời.

- Bà còn nhớ những chi tiết rất đời thường nào của Bác Hồ trong quãng thời gian ấy?
Nhà văn Xuân Phượng: Nhiều lắm, không nhớ hết được, chỉ kể vài chuyện thôi nhé. Hồi đó, thỉnh thoảng chúng tôi lại được gọi đến chỗ Bác. Các chị em háo hức lắm vì đến đó thế nào cũng được bồi dưỡng món gì đó ngon.
Có bữa Bác hỏi chúng tôi thèm gì. Chúng tôi nói thèm chè. Bác bảo ông bếp nấu một nồi chè bà cốt. Ai cũng háo hức ngồi chờ. Đến lúc bưng ra mới biết “ông bếp” nhầm, thay vì bỏ đường lại bỏ muối. Không ai ăn nổi. Bác nếm thử, rồi bảo nấu lại cho các cháu. Những chuyện nhỏ như vậy, người ở ngoài nghe tưởng bình thường, nhưng với chúng tôi lúc đó là ân tình không quên được.
Có lần Bác hỏi tên tôi. Tôi nói cháu tên Phượng. Bác cười rồi bảo: “Tên thì đẹp mà sao người bẩn thế?”. Tôi nói thật là không có xà bông. Bác bảo không có xà bông thì đi tìm bồ kết, tìm cây rừng mà gội. Rồi Bác hỏi bao nhiêu tuổi. Tôi lúc đó khoảng 19, 20. Bác lại nói các cháu là người Kinh mà không sạch bằng người Tày, người Cao Lan ở đấy. Cuối cùng vẫn là câu dặn cũ: đói cho sạch, rách cho thơm.
Mỗi tuần, có khi Bác lại cho người gọi tổ nữ sang. Ai cũng thích đi vì đến đó được ăn cơm. Bác còn trêu rằng người ta bảo “nam thực như hổ, nữ thực như miu” là không đúng, tổ nữ này ăn khỏe lắm. Chúng tôi nhiều khi ăn một phần, còn một phần giấu đem về cho mấy đứa nhỏ ở nhà. Đó là những ký ức ấm áp, cả đời không quên.

- Sau hòa bình, từ chiến khu trở về Hà Nội, bà lại chuyển qua làm ngành y. Đọc sách thì thấy bà lại gặp nhiều nhân vật…đặc biệt. Trong số đó, cuộc gặp nào để lại trong bà những dấu ấn thú vị, bất ngờ?
Nhà văn Xuân Phượng: Năm 1954 tôi về lại Hà Nội, làm ở Ủy ban Liên lạc Văn hóa với nước ngoài. Tôi học y và ra làm bác sĩ, thuộc diện y sĩ cao cấp. Sau đó tôi phụ trách phòng khám bệnh của Ủy ban. Nhiệm vụ là khám sức khỏe cho những vị khách quốc tế từ nước ngoài sang giúp Việt Nam. Có thể nói đó là một công việc rất đặc biệt. Vì công việc đặc biệt nên gặp những nhân vật đặc biệt cũng là bình thường thôi.
Tôi từng đo huyết áp cho German Titov, nhà du hành vũ trụ nổi tiếng của Liên Xô. Theo nguyên tắc ngoại giao, cứ có khách quốc tế quan trọng đến thì Bộ Ngoại giao cử người đi cùng bác sĩ để kiểm tra sức khỏe. Khi gặp Titov, tôi nói thật là tôi rất ngưỡng mộ ông, nhưng nhìn ông khỏe mạnh quá, còn tôi từ chiến khu mới về, gầy yếu lắm, tôi cũng ngại khám cho ông. Ông cười. Tôi đo huyết áp cho ông, rất đẹp, khoảng 120 trên 70. Rồi ông còn bảo cứ để nguyên máy đó, để tôi hạ huyết áp cho cô xem. Ông nói người đi vũ trụ phải biết cách điều chỉnh cơ thể. Ông ngồi thở, tự điều chỉnh. Tôi vừa ngạc nhiên vừa sợ, sợ ông cố quá lại nguy hiểm. Nhưng đó là một kỷ niệm tôi nhớ mãi.
Một nhân vật nữa tôi từng khám là Fidel Castro. Ông ấy cao lớn, hơn một mét chín mươi, trong khi tôi gầy như que sậy. Tôi vẫn phải làm đúng nguyên tắc ngoại giao của Việt Nam, tức là thăm khám, đo huyết áp. Ngoài ra còn nhiều đoàn khách quốc tế, nhà báo, nhà văn, nhân vật nổi tiếng khác. Nếu cứ theo ngành y thì có lẽ cuộc đời tôi sẽ đi theo một hướng rất khác.

- Vậy bước ngoặt nào đã khiến bà rời ngành y để sang một con đường dữ dội hơn nhiều – làm phim tài liệu trong chiến tranh với những nẻo đường “chân cứng đá mềm”, khó mà hình dung nổi. Đọc sách, từng câu chuyện hiện ra cứ như chuyện cổ tích….
Nhà văn Xuân Phượng: Bước ngoặt ấy đến từ Joris Ivens. Một hôm anh Vũ Kỳ gọi tôi lên cùng một số người khác. Trong phòng có hai nhà điện ảnh nổi tiếng thế giới, vợ chồng Joris Ivens. Bác Hồ giới thiệu đây là những người chuyên làm phim ở những vùng có chiến tranh giành độc lập, rất có uy tín trên thế giới. Ông bà muốn làm phim về vùng ác liệt nhất Việt Nam để chiếu ra nước ngoài. Bác nói phim của ta làm rất thật, nhưng các nước tư bản có thể cho là tuyên truyền của cộng sản, còn phim của hai ông bà này thì có thể được chiếu ở những nơi ấy. Vì vậy Bác giao nhiệm vụ cho chúng tôi bảo vệ tính mạng của họ trong chuyến đi.
Ông bà Ivens nói muốn vào nơi ác liệt nhất, mà lúc đó chính là Vĩnh Linh. Nghe đến Vĩnh Linh ai cũng choáng váng, vì đó là tử địa, bom đạn khủng khiếp. Nhưng Bác đã giao thì đi. Chúng tôi vào Vĩnh Linh, sống và làm việc trong địa đạo, trong bom đạn, suốt hai tháng.

Lúc ấy tôi vẫn là bác sĩ của phòng khám thuộc Ủy ban Liên lạc Văn hóa với nước ngoài. Nghề y của tôi nhàn hơn nhiều, lương tốt, vị trí ổn định. Tôi vẫn nghĩ đời mình sẽ đi như thế. Nhưng trước khi về Paris, ở sân bay Gia Lâm, Joris Ivens đặt tay lên vai tôi và nói đại ý rằng năm 1967 này, nghề bác sĩ rất cần, nghề phiên dịch tiếng Pháp cũng rất cần, nhưng cần hơn hết là những người có thể quay, ghi lại tội ác của đế quốc Mỹ để cho thế giới biết chiến tranh ở Việt Nam tàn khốc thế nào. Ông nói sau hai tháng sống cùng nhau ở Vĩnh Linh, ông thấy tôi có tố chất của một người làm báo, làm phim chiến trường. Ông khuyên tôi hãy can đảm từ bỏ cuộc sống yên ổn của mình để sống cuộc đời mà lúc ấy Tổ quốc đang cần nhất.
Câu nói đó làm tôi choáng váng. Về Hà Nội rồi mà cảm giác Vĩnh Linh vẫn theo mãi. Nhìn trẻ con Hà Nội đi học lại nhớ những đứa bé học dưới hầm. Nhìn cha mẹ đẩy con đi lại nhớ những em bé sinh ra và lớn lên trong lòng đất, thỉnh thoảng mới được đưa lên mặt đất để thở rồi lại xuống. Cuối cùng tôi quyết định bỏ ngành y.
Bộ Y tế nói rất rõ, nếu chị bỏ ngành y sang nghề khác thì chỉ được hưởng lương thực tập, tức từ vị trí chuyên viên có thể xuống mức lương như người quét đường. Lúc đó lại đang có phong trào đề cao phụ nữ, người ta còn dự định đưa tôi lên vị trí cao hơn trong ngành. Nhưng tôi nghĩ con người chỉ sống một lần. Đã quyết tâm thì đi. Tôi đi vì cảm thấy mình cần cho Vĩnh Linh, cần cho chiến trường, cần cho một công việc khác.





- Bà từng kể một câu chuyện thú vị về việc Joris Ivens muốn quay Bác Hồ mà không đội mũ. Chuyện đó diễn ra thế nào?
Nhà văn Xuân Phượng: Đó là vào năm 1968. Hôm ấy có cuộc gặp giữa Bác Hồ với các dũng sĩ diệt Mỹ từ miền Nam ra báo cáo thành tích. Ông Ivens muốn quay phim buổi ấy. Mọi thứ đang diễn ra bình thường thì ông ấy nói với tôi rằng phải xin Bác bỏ mũ ra, vì như vậy hình ảnh sẽ đẹp hơn. Tôi nghe mà lạnh cả người vì Bác đang tiếp khách, bảo tôi chạy đến cắt ngang câu chuyện nói với Bác bỏ mũ, thật sự là quá khó. Tôi chạy đi tìm anh Vũ Kỳ, anh ấy cũng bảo chuyện đó khó lắm, anh không dám nói. Ivens thì nói nếu không xin được thì đoàn sẽ không quay.
Cuối cùng tôi đánh liều bước tới. Lúc ấy Bác đang trò chuyện rất vui với các chiến sĩ. Tôi thưa với Bác rằng ông Ivens nói Bác nên bỏ mũ ra. Bác nhìn tôi rồi hỏi: “Cái mũ này không đẹp à?”. Trong khoảnh khắc ấy phải phản ứng thật nhanh. Tôi nói: “Thưa Bác, cái mũ này rất đẹp, nhưng tóc Bác đẹp hơn”. Bác cười lớn rồi bảo: “Cô này khá lắm, nhà báo là phải như thế”. Nhờ vậy mà hôm đó quay được. Về sau bên Đức còn gửi lại cho tôi một bức ảnh của buổi ghi hình ấy, như một chứng tích xác nhận câu chuyện.

- Sau Bác Hồ, những cuộc gặp nào với các lãnh đạo khác khiến bà nhớ nhất?
Nhà văn Xuân Phượng: Một trong những câu chuyện tôi nhớ là cuộc gặp có ông Phạm Văn Đồng và hai chuyên gia châu Âu được mời sang trao đổi về việc phục hồi kinh tế sau chiến tranh. Hôm ấy tôi được gọi đi quay phim. Người ta dự kiến phải bố trí chương trình cả tuần để nghe họ giảng giải. Nhưng một trong hai người nói rằng không cần đến một tuần, ông chỉ cần 15 phút để trả lời.
Ông ấy nói đại ý rằng trong đời, muốn lái xe 4 chỗ phải có bằng 4 chỗ, lái xe 12 chỗ phải có bằng 12 chỗ, lái xe 16 chỗ phải có bằng 16 chỗ. Điều khiển một chiếc xe còn phải có bằng, có trình độ, huống hồ điều khiển cả một đất nước. Nếu không có tri thức kinh tế, không có hiểu biết thực tế, không có đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản thì rất khó đưa đất nước vượt lên. Ông đề nghị phải cho người đi học, đi du học, phải trọng dụng cán bộ có học thức, có chuyên môn.
Tôi nhớ sau buổi ấy, ông Phạm Văn Đồng còn gọi lại và nói với anh em chúng tôi kiểu như: các cháu thấy chưa, vấn đề là phải làm sao để có trình độ mà gánh vác việc nước. Đến giờ nghĩ lại, tôi vẫn thấy đó là một nhận xét đi trước thời gian rất nhiều.

- Nhìn lại cả hành trình của mình, điều gì giúp bà đi tiếp trong những giai đoạn khó khăn nhất?
Nhà văn Xuân Phượng: Tôi nghĩ đời này may mắn lắm. Những đau khổ mình phải chịu có khi lại đi cùng những may mắn rất lớn. Tôi là người đã chọn thì đi đến cùng. Chọn con đường nào cũng có chông gai, nhưng nếu đã tin đó là con đường đúng thì không lùi. Chỉ những người không lương thiện với chính mình, không đủ can đảm với lựa chọn của mình, mới dễ dàng bỏ cuộc.
Trong đời tôi cũng không phải lúc nào cũng được đánh giá đúng. Có những lúc bị trù dập, bị hiểu lầm, bị đặt ra ngoài lề. Tôi đều có viết cả trong sách. Nhưng tôi chưa bao giờ cho phép mình gục hẳn xuống. Có rất nhiều người tài năng, nhưng vì không được đặt đúng chỗ, không được lắng nghe, mà nản, mà rẽ ngang. Tôi hiểu điều đó chứ. Nhưng tôi vẫn nghĩ một người phải cố giữ lấy ngọn lửa của mình.
Tôi rất nhớ hai câu. Một là, bỏ cuộc chắc chắn là cách duy nhất để thất bại. Hai là câu mà tôi mang theo suốt đời, thường được nhắc cùng tác giả Trăm năm cô đơn: người ta không ngừng theo đuổi ước mơ vì già, mà già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ. Ở tuổi này rồi tôi vẫn cố chia sẻ những gì mình đã sống, đã thấy, đã học được. Với tôi, đó cũng là một cách tiếp tục sống có ích.

- Vừa rồi, clip bà song ca bài “Biết ơn cụ Hồ Chí Minh” cùng doanh nhân Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn “Chuyện với Thanh”, trong buổi ra mắt sách đã lan tỏa nhiều trên mạng xã hội và rất truyền cảm hứng tới giới trẻ. Bà có muốn gửi gắm gì thêm với những bạn trẻ hôm nay không?
Nhà văn Xuân Phượng: Giá mà được trẻ lại tuổi 60, tôi sẽ rủ các bạn trẻ như Thanh và nhiều bạn trẻ ngồi chăm chú nghe, nghiêm túc ghi chép, sẵn sàng phản biện cùng đi một chuyến “phượt, hành hương” về đất Quảng Trị, Vĩnh Linh anh hùng.
Dừng lại ở cầu Hiền Lương, nơi vẫn còn giữ chiếc vạch sơn khác màu chia cắt Bắc Nam. Ngước nhìn lá cờ bao lần bị bom đạn làm rách tả tơi. Lần từng bước chân xuống địa đạo Vĩnh Mốc tối tăm, mịt mùng. Rồi sau đó thắp những nén nhang tưởng niệm trước những ngôi mộ của những chàng trai, cô gái đã ngã xuống khi tuổi đời chưa đến con số 20 ở Thành cổ Quảng Trị.
Tôi sẽ cùng Nam và các cháu đến thăm một trong số hàng nghìn nữ thanh niên xung phong từng tình nguyện vào Trường Sơn phá đá, mở đường dưới mưa bom năm 1965. Năm 1975, khi hòa bình trở lại, rời cánh rừng về lại quê hương, mười năm sau họ đã là những người đàn bà bệnh tật, già yếu...
Một chuyến đi phượt, hành hương như vậy để thấm thía hơn câu nói: Không có gì quý hơn độc lập, tự do.
Nhưng đây chỉ là một ước mơ. Không thể “lão hoàn đồng” được. Nên bây giờ, tôi chỉ có thể nói chuyện với Nam thôi.

- Nếu phải nói ngắn gọn về điều mình mong nhất ở một cuộc trò chuyện như thế này, bà muốn bạn đọc nhớ điều gì?
Nhà văn Xuân Phượng: Tôi mong người ta nhớ rằng đời sống không chỉ được làm nên bởi những quyết định lớn, mà còn bởi cách mình giữ lòng biết ơn, giữ sự tử tế và giữ ước mơ. Tôi chịu ơn nhiều người, từ Bác Hồ, Joris Ivens, ông Phạm Văn Đồng, ông Võ Văn Kiệt…, những lãnh đạo, cơ quan ban ngành TP.HCM… đến những người bạn cũ, đồng nghiệp cũ mới. Nhưng mình không thể chỉ biết nhớ ơn. Mình phải sống sao cho xứng đáng với niềm tin họ từng dành cho mình.
Có những người lớn lên thành tượng đài trong lòng mình không phải vì họ nói lời hoa mỹ, mà vì họ sống có tình, có tầm, có trách nhiệm. Còn mình, sống đến tuổi nào cũng vậy, vẫn phải làm việc, vẫn phải học, vẫn phải bước tiếp. Vì nếu mình dừng lại thì mình già đi thật. Còn nếu còn giữ được ước mơ, còn muốn làm điều có ích, thì mình vẫn đang sống.


