Công nghệ quân sự

Nhật Bản tái cấu trúc nghiên cứu quốc phòng, đặt trọng tâm vào AI

Bùi Tú • 24/10/2026 14:15

Trước những thay đổi nhanh chóng của môi trường an ninh khu vực, Nhật Bản dự kiến chuyển đổi căn bản mô hình nghiên cứu quốc phòng, ưu tiên trí tuệ nhân tạo (AI), an ninh mạng và hệ thống chỉ huy, kiểm soát.

Tokyo đồng thời muốn củng cố ngành công nghiệp quốc phòng trong nước, tăng khả năng tự chủ và mở rộng hợp tác với các đối tác tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

nghiên cứu quốc phòng
Lực lượng phòng vệ Nhật chuyển hướng nghiên cứu quốc phòng.

Chuyển từ nghiên cứu quốc phòng theo nền tảng sang năng lực tác chiến

Nhật Bản đang xem xét thay đổi cách tổ chức hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) quốc phòng, từ mô hình phân chia theo từng loại phương tiện quân sự sang mô hình dựa trên chức năng và năng lực tác chiến. Mục tiêu là giúp lực lượng phòng vệ phát hiện nguy cơ, xử lí thông tin và đưa ra quyết định nhanh hơn trước các đối thủ.

Phát biểu tại hội nghị chuyên đề an ninh ở Tokyo do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cùng Nikkei đồng tổ chức, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Shinjiro Koizumi cho biết các viện nghiên cứu quốc phòng nước này hiện được tổ chức theo những lĩnh vực như tàu chiến và hệ thống hàng không. Cấu trúc đó sẽ được điều chỉnh để tập trung vào những năng lực có ý nghĩa quyết định đối với chiến tranh hiện đại.

“Chúng ta cần có khả năng phát hiện các mối đe dọa, đưa ra quyết định và phản ứng nhanh hơn đối thủ. Vì vậy, Nhật Bản sẽ tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển trong những lĩnh vực trọng yếu như AI, an ninh mạng, chỉ huy và kiểm soát, thông tin và truyền thông, chuyển từ cấu trúc dựa trên nền tảng sang cấu trúc tổ chức theo chức năng”, ông Koizumi nói.

Sự thay đổi này phản ánh thực tế rằng ưu thế quân sự ngày nay không chỉ được quyết định bởi số lượng tàu chiến, máy bay hay phương tiện chiến đấu. Khả năng kết nối dữ liệu, phân tích thông tin tình báo, nhận diện mục tiêu và phối hợp giữa các lực lượng ngày càng có vai trò quan trọng. Một hệ thống vũ khí hiện đại sẽ khó phát huy hết hiệu quả nếu thông tin không được truyền tải kịp thời hoặc quá trình ra quyết định bị chậm trễ.

Trong tiến trình đó, AI có thể hỗ trợ xử lí lượng dữ liệu lớn từ vệ tinh, radar, máy bay không người lái và các hệ thống giám sát. Công nghệ này cũng có thể giúp nhận diện những dấu hiệu bất thường, phân loại mục tiêu và đề xuất phương án ứng phó. Tuy nhiên, việc đưa AI vào hoạt động quân sự cũng đặt ra yêu cầu về độ tin cậy, khả năng kiểm soát và trách nhiệm của con người đối với các quyết định sử dụng vũ lực.

Nhật Bản dự kiến hoàn tất việc sửa đổi Chiến lược An ninh quốc gia cùng hai văn kiện an ninh quan trọng khác trong năm nay. Theo ông Koizumi, một trong những khái niệm chủ chốt được đặt ra là “răn đe bằng năng lực ngăn chặn” (deterrence by denial). Thay vì chỉ dựa vào khả năng trả đũa, Nhật Bản muốn chứng minh rằng nước này đủ năng lực khiến đối phương không thể đạt được mục tiêu nếu tìm cách tấn công.

“Chúng ta sẽ không chủ động phát động tấn công, nhưng phải có năng lực ngăn chặn mọi mối đe dọa nhằm vào mình. Trong môi trường an ninh toàn cầu hiện nay, không thể để bất kì ai đánh giá thấp Nhật Bản hoặc sức mạnh của liên minh Nhật - Mỹ”, ông nhấn mạnh.

Xây dựng ngành công nghiệp quốc phòng tự chủ

Bên cạnh đổi mới nghiên cứu, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản cho rằng việc hình thành một ngành công nghiệp quốc phòng đủ mạnh là năng lực thiết yếu của quốc gia, đồng thời tạo nền tảng cho hợp tác thực chất với các nước trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Một trong những trở ngại hiện nay là khả năng tiếp cận nguồn vốn của các doanh nghiệp sản xuất thiết bị quốc phòng. Ông Koizumi dẫn trường hợp một công ty khởi nghiệp Nhật Bản hoạt động trong lĩnh vực máy bay không người lái để minh họa cho khó khăn này. Do phụ thuộc nhiều vào hợp đồng quốc phòng, doanh nghiệp gặp trở ngại khi tìm kiếm nguồn tài chính từ các tổ chức tín dụng trong nước, buộc phải tìm đến các quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài trong khuôn khổ quy định hiện hành.

“Nếu cấu trúc này tiếp tục tồn tại, Nhật Bản sẽ không thể phát triển ngành công nghiệp quốc phòng của riêng mình”, ông Koizumi cảnh báo.

Thực tế, các doanh nghiệp quốc phòng thường phải đầu tư lớn cho nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm trước khi có thể thương mại hóa. Chu kì phát triển dài, khách hàng chủ yếu là cơ quan nhà nước và các yêu cầu nghiêm ngặt về kĩ thuật khiến lĩnh vực này khó thu hút vốn theo cách tương tự những ngành công nghệ tiêu dùng. Nếu các ngân hàng và nhà đầu tư trong nước hạn chế cấp vốn, doanh nghiệp Nhật Bản có nguy cơ phụ thuộc vào nguồn tài chính bên ngoài, kéo theo những vấn đề về quyền kiểm soát công nghệ và chuỗi cung ứng.

Một bước điều chỉnh chính sách đã diễn ra vào tháng 5, khi Ngân hàng Phát triển Nhật Bản trên thực tế dỡ bỏ lệnh cấm tài trợ đối với các nhà sản xuất vũ khí thuộc những nhóm trước đây bị hạn chế. Thay đổi này cho phép ngân hàng cấp vốn vay và đầu tư vào doanh nghiệp sản xuất thiết bị quốc phòng ngoài năm nhóm mục đích phi sát thương từng được cho phép. Động thái phản ánh sự thay đổi trong định hướng của chính phủ Nhật Bản đối với việc hỗ trợ ngành công nghiệp quốc phòng.

Việc mở rộng khả năng tiếp cận vốn có thể giúp các công ty trong nước duy trì hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ và mở rộng sản xuất. Đặc biệt, những lĩnh vực như máy bay không người lái, cảm biến, phần mềm, AI và an ninh mạng có sự giao thoa lớn giữa công nghệ dân sự và quân sự, tạo cơ hội để các doanh nghiệp công nghệ tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc phòng.

Tuy nhiên, xây dựng một ngành công nghiệp quốc phòng tự chủ không chỉ là câu chuyện cấp vốn. Nhật Bản còn cần hình thành hệ sinh thái kết nối giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các cơ quan quân sự, đồng thời tạo điều kiện để công nghệ được thử nghiệm và đưa vào sử dụng. Đây cũng là cơ sở để Tokyo thúc đẩy hợp tác công nghiệp quốc phòng với các đối tác trong khu vực, thay vì chỉ dựa vào việc mua sắm trang thiết bị từ nước ngoài.

AI và liên minh Nhật - Mỹ trước thách thức nhân lực

Áp lực cải tổ quốc phòng của Nhật Bản càng lớn khi nước này phải đối mặt với tình trạng dân số suy giảm và lực lượng lao động trong độ tuổi nhập ngũ ngày càng thu hẹp. Theo dự báo được ông Koizumi nêu tại hội nghị, Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản có thể thiếu khoảng 40.000 nhân sự vào năm 2035 và khoảng 90.000 người vào năm 2045.

Điều này đặt ra bài toán làm thế nào duy trì năng lực quốc phòng trong điều kiện nguồn nhân lực hạn chế. Theo ông Koizumi, Nhật Bản cần bảo đảm sức mạnh phòng vệ không suy giảm, đồng thời duy trì những năng lực thực sự cần thiết. Chính phủ phải tiếp tục thảo luận và cân nhắc mọi phương án để xây dựng Bộ Quốc phòng cùng Lực lượng Phòng vệ có khả năng ứng phó hiệu quả với những thách thức mới.

AI được xem là một trong những công cụ có thể hỗ trợ giải quyết bài toán này. Phát biểu trước đó tại hội nghị, tướng Thủy quân lục chiến Mỹ đã nghỉ hưu Joseph Dunford, hiện là Giám đốc điều hành CSIS và từng giữ chức Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, nhận định công nghệ này có thể giúp liên minh Nhật - Mỹ cải thiện đáng kể khả năng xử lí thông tin và ra quyết định.

Ông dẫn ví dụ từ cuộc xung đột Nga - Ukraine, nơi Ukraine ngày càng ứng dụng AI để vận hành và phối hợp hàng nghìn máy bay không người lái mỗi ngày. Theo ông, kinh nghiệm chiến trường cho thấy công nghệ có thể thay đổi tốc độ và cách thức tổ chức hoạt động quân sự.

“AI sẽ mang lại cho liên minh chúng ta khả năng chưa từng có trong việc xử lí thông tin, đưa ra quyết định với tốc độ phù hợp với tình hình và nâng cao năng lực răn đe”, ông Dunford nói.

Dù vậy, vị tướng Mỹ cũng nhấn mạnh việc ứng dụng AI trong quân sự phải bảo đảm nguyên tắc sử dụng vũ lực phù hợp với các giá trị của Mỹ và luật xung đột vũ trang. Đây là vấn đề đặc biệt nhạy cảm khi công nghệ ngày càng tiến gần đến khả năng tự động hóa các quyết định liên quan đến mục tiêu và sử dụng vũ khí.

Ông đề cập tranh luận giữa Bộ Quốc phòng Mỹ và Anthropic, một trong những doanh nghiệp phát triển AI hàng đầu. Trước đó, Bộ Quốc phòng Mỹ muốn loại bỏ các giới hạn an toàn và có quyền truy cập rộng hơn vào Claude, trợ lí AI của Anthropic. Công ty từ chối với lí do lo ngại công nghệ có thể bị sử dụng cho hoạt động giám sát hàng loạt hoặc phát triển vũ khí hoàn toàn tự động. Sau đó, Lầu Năm Góc ngừng sử dụng sản phẩm của Anthropic và kí thỏa thuận với một số công ty công nghệ khác, trong đó có Google và OpenAI.

Theo ông Dunford, bất đồng cốt lõi nằm ở việc Anthropic muốn duy trì khả năng giám sát và kiểm soát cách Bộ Quốc phòng sử dụng AI, trong khi phía quân đội không muốn doanh nghiệp công nghệ có quyền phủ quyết việc ứng dụng công nghệ này.

Về quan hệ Nhật - Mỹ và cách hai nước ứng phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc, ông Dunford cho rằng hai bên chưa bao giờ gần nhau hơn trong nhận thức về môi trường chiến lược và mục tiêu tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Những phát biểu tại hội nghị cho thấy Nhật Bản đang đứng trước yêu cầu tái định hình năng lực quốc phòng trên nhiều phương diện như công nghệ, nguồn vốn, công nghiệp và nhân lực. AI có thể giúp tăng tốc độ phản ứng và bù đắp một phần hạn chế về quân số, nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào khả năng kiểm soát công nghệ, chất lượng phối hợp giữa các lực lượng và khuôn khổ pháp lí bảo đảm việc sử dụng sức mạnh quân sự có trách nhiệm.

Nổi bật
      Mới nhất
      Nhật Bản tái cấu trúc nghiên cứu quốc phòng, đặt trọng tâm vào AI
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO