Từ nguy cơ mất thận vĩnh viễn đến kì tích bóc nhân bướu rốn thận bằng robot 3D
Bướu rốn thận từng là “vùng cấm địa” trong phẫu thuật. Tuy nhiên, hiện nay robot 3D đã giúp bác sĩ bóc nhân bướu phức tạp, mở cơ hội bảo tồn quả thận.
Bướu rốn thận từng được xem là một trong những vị trí phẫu thuật đặc biệt nguy hiểm do nằm sát các mạch máu lớn và hệ thống thu gom nước tiểu. Với sự hỗ trợ của công nghệ dựng hình 3D và hệ thống phẫu thuật robot da Vinci, các bác sĩ đã làm chủ kĩ thuật bóc nhân bướu, mở ra cơ hội bảo tồn thận cho những người bệnh tưởng chừng phải cắt bỏ toàn bộ cơ quan này.
Bướu rốn thận: “vùng cấm địa” của phẫu thuật bảo tồn thận
Theo TS.BS Phạm Phú Phát – Trưởng khoa Niệu A, Bệnh viện Bình Dân( TP.HCM), ung thư thận nếu được phát hiện sớm hoàn toàn có khả năng điều trị hiệu quả. Với những khối u nhỏ nằm ở vỏ thận, phẫu thuật cắt bướu bảo tồn nhu mô thận thường là lựa chọn quan trọng.

Tuy nhiên, bài toán trở nên phức tạp khi khối u nằm tại rốn thận, nơi tập trung những cấu trúc giải phẫu đặc biệt quan trọng. Theo phân loại R.E.N.A.L của Kutikov và Uzzo, những khối u tiếp giáp hoặc xâm lấn các mạch máu thận chính được xem là những trường hợp có độ khó cao.
“Rốn thận” có thể hình dung như một ngã tư huyết mạch của quả thận. Đây là nơi động mạch và tĩnh mạch thận đi qua, đồng thời bể thận tiếp nhận nước tiểu trước khi dẫn xuống niệu quản. Khi khối u phát triển tại khu vực này, chỉ một thao tác thiếu chính xác cũng có thể làm tổn thương mạch máu, gây chảy máu nghiêm trọng hoặc ảnh hưởng hệ thống thu gom nước tiểu.
“Thách thức lớn nhất không chỉ là lấy được khối u mà còn phải bảo đảm loại bỏ triệt để tổ chức ung thư, đồng thời giữ lại tối đa phần nhu mô thận lành. Sau khi lấy bướu, bác sĩ còn phải tái tạo vùng tổn thương mà không gây tắc nghẽn đường thoát nước tiểu hay làm tổn thương thêm nhu mô còn lại”, bác sĩ Phát cho biết.
“Bản đồ số” 3D giúp bác sĩ nhìn trước đường đi của khối u
Trong những ca phẫu thuật phức tạp, việc chỉ dựa vào hình ảnh CT hoặc MRI hai chiều có thể khiến phẫu thuật viên gặp khó khăn khi hình dung mối tương quan không gian giữa khối u, nhu mô thận và hệ thống mạch máu.
Để giải quyết vấn đề này, TS.BS Phạm Phú Phát cho biết cần phải xây dựng bản đồ giải phẫu 3D trước phẫu thuật. Từ dữ liệu hình ảnh có độ phân giải cao, hệ thống máy tính tái tạo mô hình ba chiều của quả thận, khối bướu và mạng lưới mạch máu xung quanh. Nhờ đó, bác sĩ có thể đánh giá mức độ xâm lấn, xác định những nhánh động mạch thận phụ và chủ động xây dựng phương án kiểm soát mạch máu trước khi phẫu thuật.
Khi kết hợp với robot da Vinci, lợi thế này tiếp tục được phát huy. Hệ thống robot có khả năng xoay chuyển linh hoạt nhiều góc độ, trong khi kính soi 3D phóng đại giúp phẫu thuật viên quan sát rõ hơn những cấu trúc nhỏ nằm sâu trong xoang thận.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa với phẫu thuật bảo tồn thận, khi khoảng cách giữa việc lấy sạch khối u và làm tổn thương nhu mô lành đôi khi chỉ tính bằng từng milimet.
Theo TS.BS Phạm Phú Phát, công nghệ hiện đại chỉ là công cụ hỗ trợ; yếu tố quyết định vẫn nằm ở chiến thuật phẫu thuật và kinh nghiệm của êkíp.
“Với những khối bướu nhỏ dưới 4 cm ở mặt sau, đường tiếp cận sau phúc mạc có thể được cân nhắc. Trong những trường hợp phức tạp hơn, ê kíp có thể tiếp cận qua ngả bụng, giải phóng và xoay cực thận để đưa khối u ra vị trí thuận lợi hơn cho thao tác”, bác sĩ Phát nói.
Đáng chú ý là kĩ thuật bóc nhân bướu được thực hiện theo chiến thuật hai chiều. Trước tiên, bác sĩ bộc lộ khối u từ ngoài vào trong, lần lượt phẫu tích và kiểm soát những nhánh mạch máu nhỏ nuôi bướu. Khi tiến hành cắt, hướng thao tác được đảo ngược: dao robot đi từ trong ra ngoài, bám theo lớp giả bao giữa khối u và nhu mô thận lành.
Cách tiếp cận này giúp lấy trọn khối bướu nhưng hạn chế tối đa việc hy sinh nhu mô thận khỏe mạnh, đồng thời giảm nguy cơ tạo ra khuyết hổng quá sâu tại vùng rốn thận.
Cuộc đua với thời gian để giữ lại từng phần nhu mô thận
Một trong những yếu tố then chốt của phẫu thuật cắt bướu thận bán phần là thời gian thiếu máu nóng. Khi động mạch thận bị kẹp, lượng máu cung cấp cho nhu mô bị gián đoạn. Nếu kéo dài quá mức, tế bào thận có thể bị tổn thương và làm tăng nguy cơ suy giảm chức năng thận về sau.
Vì vậy, ê kíp áp dụng chiến lược “mở kẹp sớm” trong quá trình phục hồi nhu mô. Khi dòng máu được tái lập, những điểm rỉ máu còn sót lại sẽ nhanh chóng bộc lộ, giúp bác sĩ xử lý chính xác bằng các mũi khâu phù hợp. Đồng thời, kĩ thuật khâu phục hồi nhu mô được thực hiện nhằm đóng kín vùng khuyết hổng nhưng hạn chế chèn ép vào bể thận.
Sự kết hợp giữa dựng hình 3D, phẫu thuật robot và chiến thuật bóc nhân bướu đang thay đổi cách tiếp cận với những khối u nằm ở vị trí đặc biệt khó như rốn thận.
Theo TS.BS Phạm Phú Phát, kĩ thuật này giúp mở rộng khả năng bảo tồn thận, đặc biệt có ý nghĩa với người bệnh lớn tuổi hoặc có bệnh lí nền, khi việc mất hoàn toàn một quả thận có thể tạo thêm gánh nặng cho chức năng thận lâu dài.
Đằng sau một ca mổ thành công không chỉ là cánh tay robot hay hình ảnh 3D, mà còn là khả năng phân tích giải phẫu, lựa chọn đường tiếp cận và kiểm soát từng mạch máu của phẫu thuật viên. Với bướu rốn thận – nơi từng được xem như một “vùng cấm địa” – sự kết hợp giữa công nghệ và kinh nghiệm đang giúp ranh giới của phẫu thuật bảo tồn thận ngày càng được mở rộng.




