Nông nghiệp thông minh

Đào ‘mỏ vàng’ ngay trong bãi rác - Một cách làm thông minh của HTX trồng chè ở Thái Nguyên

Kim Ngọc 19/08/2026 18:24

Thay vì bỏ đi phụ phẩm sau mỗi vụ sản xuất, HTX Nông sản Phú Lương, Thái Nguyên thu gom rơm rạ, thân ngô, cành chè sau cắt tỉa, phân chuồng... đưa về xử lý, phối trộn với men vi sinh rồi ủ thành phân hữu cơ. Cách làm này giúp HTX tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, chủ động một phần phân bón cho vùng chè.

HTX Nông sản Phú Lương: Đào "mỏ vàng" ngay trong bãi rác

Tiếng máy nghiền, máy trộn vang lên trong khu nhà xưởng của HTX Nông sản Phú Lương. Rơm rạ, thân ngô, cành chè sau cắt tỉa cùng nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp được tập kết về đây.

HTX Phú Lương 1
Thay vì bỏ đi phụ phẩm sau mỗi vụ sản xuất, HTX Nông sản Phú Lương, Thái Nguyên thu gom rơm rạ, thân ngô, cành chè sau cắt tỉa, phân chuồng... đưa về xử lý, phối trộn với men vi sinh rồi ủ thành phân hữu cơ. Ảnh: Lan Hương

Những nguyên liệu kích thước lớn được đưa qua máy nghiền, băm nhỏ trước khi phối trộn. Theo ông Tống Quốc Đôn, Phó Giám đốc HTX Nông sản Phú Lương, nguyên liệu sau khi xử lý được trộn với chất thải động vật theo tỷ lệ khoảng 70% và 30% các loại phụ phẩm khác, đồng thời bổ sung men vi sinh trước khi đưa vào ủ.

“Phụ phẩm nông nghiệp về mình ủ với vi sinh, tức là mình cấy vi sinh vật lên men, tạo vi sinh vật để làm lợi khuẩn cho đất”, ông Tống Quốc Dần, thành viên HTX, nói.

ông Dần
Ông Tống Quốc Dần, thành viên HTX Nông sản Phú Lương đang lái máy xúc các phụ phẩm để đưa vào máy trộn. Ảnh: Lan Hương

Cách làm này bắt đầu từ những thứ rất quen thuộc với người nông dân. Vùng chè có cành lá sau cắt tỉa, ruộng lúa có rơm rạ, thân ngô phát sinh sau mỗi vụ sản xuất, trong khi chăn nuôi tạo ra phân chuồng. Nếu bỏ đi, người sản xuất vừa phải xử lý phụ phẩm, vừa tiếp tục mua phân bón cho vụ sau. HTX chọn cách gom chúng về một đầu mối, xử lý rồi đưa trở lại vùng sản xuất.

HTX Nông sản Phú Lương hiện có khoảng 60ha chè, 50ha lúa và hơn 60 lao động tham gia sản xuất, chế biến. Nhà xưởng sản xuất phân rộng hơn 1.000m², được đầu tư máy móc phục vụ nghiền, trộn và xử lý phụ phẩm.

Mỗi năm, HTX sản xuất khoảng 100 tấn phân hữu cơ vi sinh để sử dụng cho vùng nguyên liệu và các hộ liên kết. Trước đó, HTX đã liên kết với 291 hộ sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP trên diện tích 60ha, cùng 50ha lúa. Điểm đáng chú ý không phải HTX làm được phân hữu cơ, mà là cách mà HTX này tổ chức nguồn nguyên liệu.

chè thái nguyên
Trên những đồi chè của HTX, người dân được hướng dẫn chăm sóc theo hướng an toàn, kiểm soát nguồn nước, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học đúng nguyên tắc và đảm bảo thời gian cách ly. Ảnh: Lan Hương

Rơm rạ từ ruộng được đưa về xử lý. Cành chè sau cắt tỉa được tận dụng. Phân chuồng có thêm đầu ra. Những nguồn phụ phẩm vốn nằm ở các khâu khác nhau được đưa vào cùng một quy trình. Theo HTX, rơm rạ, trấu, bùn ao, phân chuồng... được phối trộn với men vi sinh và ủ trong khoảng 3-6 tháng trước khi sử dụng.

Nếu một hộ dân tự ủ một lượng nhỏ phân để dùng cho gia đình thì khá đơn giản. Nhưng với vùng nguyên liệu hàng chục hecta và hàng trăm hộ liên kết, việc thu gom, nghiền, phối trộn và ủ tập trung đòi hỏi một cách tổ chức khác.

Chiếc máy nghiền, máy trộn vì thế chỉ là một phần của câu chuyện. Quan trọng hơn là HTX phải tính được có nguồn phụ phẩm nào, xử lý ra sao và đưa trở lại sản xuất ở đâu. Đó cũng là điểm thể hiện cách làm “thông minh” của mô hình.

Trên đồi chè, một quy trình khác cũng đang thay đổi

Nguồn phân sau khi ủ được đưa trở lại vùng nguyên liệu. Trên những đồi chè của HTX, người dân được hướng dẫn chăm sóc theo hướng an toàn, kiểm soát nguồn nước, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học đúng nguyên tắc và đảm bảo thời gian cách ly.

HTX Nông sản Phú Lương (4)
Chị Nguyễn Hà My (ở giữa), thành viên HTX đang thu hoạch chè

Chị Nguyễn Hà My, thành viên HTX, cho biết những đồi chè được chăm bón bằng nguồn phân hữu cơ ủ từ phụ phẩm nông, lâm nghiệp. Cỏ không được xử lý bằng thuốc diệt cỏ mà dùng máy cắt hoặc nhổ bằng tay.

Khâu thu hái cũng được chú ý. Bà Trần Thị Thân, thành viên HTX, cho biết người dân thường bắt đầu hái chè từ sáng sớm, khi trời còn mát. Búp chè phải được hái đúng lứa, không quá già cũng không quá non.

Có những ngày nhiệt độ lên 37-38 độ C, thậm chí cao hơn, nhưng khi đến lứa, người trồng vẫn phải lên đồi. Những búp chè sau đó được đưa về chế biến, đóng gói và bán ra thị trường.

Như vậy, câu chuyện phụ phẩm không đứng riêng ở khu nhà xưởng. Nó gắn với cả vùng nguyên liệu, từ nguồn vật tư đầu vào đến cách chăm sóc và tạo ra sản phẩm. Người nông dân khó thay đổi cách làm chỉ vì một mô hình được gọi là “nông nghiệp tuần hoàn”. Điều họ quan tâm vẫn là chi phí, năng suất và thu nhập.

Nếu tận dụng được nguồn phụ phẩm sẵn có, giảm một phần lượng phân phải mua từ bên ngoài và duy trì được chất lượng đất, lợi ích của mô hình sẽ không chỉ nằm ở chuyện xử lý rơm rạ hay cành chè.

HTX Nông sản Phú Lương (2)
Trước đây giá chè tươi của bà con trong vùng chỉ có giá bán dao động từ 24.000 – 26.000 đồng/kg, thời điểm giá cao nhất đạt 27.000 – 28.000 đồng/kg. Nhưng khi sản xuất theo đúng yêu cầu đặt ra, HTX sẽ thu mua với giá từ 30.000 – 38.000 đồng/kg, thậm chí có thời điểm là 40.000 đồng/kg (cao hơn giá thị trường). Ảnh: HTX

Một hộ dân có thể tự ủ phân cho gia đình. Nhưng khi HTX đứng ra tổ chức thu gom, đầu tư máy móc, bổ sung men vi sinh và đưa nguồn phân trở lại hàng chục hecta vùng nguyên liệu, phụ phẩm đã trở thành một mắt xích trong hệ thống sản xuất.

Đó là điểm “thông minh” đáng chú ý ở HTX Nông sản Phú Lương khi đầu ra của khâu này được tính toán để trở thành đầu vào của khâu khác.

Rơm rạ, thân ngô, cành chè và phân chuồng không kết thúc ở bãi thải. Chúng quay trở lại ruộng, đồi chè dưới một hình thức khác, giúp HTX chủ động hơn về nguồn dinh dưỡng và giảm sự phụ thuộc vào vật tư bên ngoài.

Kim Ngọc