'Nguyễn Bính - một cõi thơ lãng mạn' qua nghiên cứu của TS. Đỗ Anh Vũ
Cuốn "Nguyễn Bính - Một cõi thơ lãng mạn" của TS. Đỗ Anh Vũ dành 10 năm nghiên cứu, góp thêm một góc nhìn về ngôn ngữ, nghệ thuật và sức sống của thơ Nguyễn Bính.
Đang chán nản, nghĩ linh tinh về chuyện văn học và xuất bản thì nhớ đến cuốn sách mới của Đỗ Anh Vũ: Nguyễn Bính - Một cõi thơ lãng mạn.

Tôi biết Đỗ Anh Vũ mấy năm gần đây. Vũ chơi đàn ghi ta, hát, ứng khẩu thành thơ, là MC ở các cuộc vui của văn nghệ sĩ. Biết Đỗ Anh Vũ làm ở Ban Văn học Nghệ thuật Âm nhạc, Đài Tiếng nói Việt Nam. Đôi khi nghe Vũ ở chương trình “Đôi bạn văn chương” hay cố vấn của chương trình Vua tiếng Việt, thấy Vũ thông minh, kiến văn rộng, hóm hỉnh. Vũ được đào tạo bài bản về ngôn ngữ học…
Thực ra, hồi trẻ tôi không "mặn mà" đọc những cuốn sách thuộc lĩnh vực lý luận, phê bình, khảo cứu. Nhưng không biết tự bao giờ, tôi lại thích. Vì thế nên sách của Đỗ Anh Vũ khiến tôi tìm đến. Cuốn sách mới này (2026) dày 560 trang, trong đó có gần 300 trang là thơ Nguyễn Bính trước 1945 và 15 trang các bản nhạc phổ thơ Nguyễn Bính của các nhạc sĩ Phạm Duy, Nguyễn Tài Tuệ, Nguyễn Đình Phúc, Từ Vũ, Huy Thục, Tô Thanh Tùng, Đức Quỳnh, Văn Phụng. Một cuốn sách dày công như thế mà Vũ chỉ in 250 cuốn.
Một công trình nghiên cứu nhưng vẫn dễ đọc
Sách của Vũ có những phần rất thú vị, không chỉ tôi thích mà còn là cuốn sách để các cháu tôi, những đứa yêu văn chương, yêu thơ, yêu tiếng Việt… cần đọc và nên đọc. Ví dụ như: Tổng quan tình hình nghiên cứu về khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ; Đôi nét về thân thế sự nghiệp Nguyễn Bính; Đặc điểm văn thơ Nguyễn Bính; Nhịp điệu trong thơ Nguyễn Bính; Cấu trúc nhan đề tác phẩm; Nghệ thuật biểu hiện dấu câu; Một số biện pháp tu từ, cú pháp trong thơ Nguyễn Bính; Những đặc sắc trong sử dụng hư từ; Đặc điểm ngữ nghĩa thơ Nguyễn Bính; Các yếu tố ngôn ngữ chỉ không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính; Các yếu tố ngôn ngữ chỉ thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính; Một số tín hiệu thẩm mỹ đặc sắc trong thơ Nguyễn Bính; Các yếu tố ngôn ngữ chỉ con người trong thơ Nguyễn Bính; Các yếu tố ngôn ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bính; Từ ngữ, điển tích, điển cố trong thơ Nguyễn Bính…
Cách viết của Đỗ Anh Vũ vẫn dễ đọc, nghiêm cẩn, khoa học nhưng hóm hỉnh và giàu tính thẩm mỹ. Trong chuyên luận, Đỗ Anh Vũ không biến Nguyễn Bính thành một “đối tượng nghiên cứu” trên bàn giấy, mà trả ông về với đời sống của tiếng Việt và đời sống nghệ thuật. Đó có thể là một trong những chìa khóa để hiểu tại sao Đỗ Anh Vũ gọi Nguyễn Bính là “một cõi thơ lãng mạn”, chứ không đơn giản chỉ là một nhà thơ của “chân quê”.
Sách do NXB Văn hóa Dân tộc xuất bản và ra mắt vào 8/2026; đây là một công trình nghiên cứu Nguyễn Bính kéo dài 10 năm của Đỗ Anh Vũ. Đặc biệt thích khi cuốn sách mở rộng đối tượng nghiên cứu Nguyễn Bính từ “thơ” sang đời sống của thơ. Nếu trong luận án tiến sĩ trước đây, Đỗ Anh Vũ đi sâu vào đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật thơ Nguyễn Bính trước 1945, thì chuyên luận 560 trang này dường như đã đi thêm một bước: Đặt thơ Nguyễn Bính trong một trường văn hóa - nghệ thuật rộng hơn, nơi thơ được đọc, được hát, được phổ nhạc, được tiếp nhận và sống tiếp trong ký ức của nhiều thế hệ.
Nguyễn Bính thường bị đóng khung bằng hai chữ “chân quê”. Nhưng Một cõi thơ lãng mạn, tác giả dường như muốn đẩy Nguyễn Bính ra khỏi cái khung quen thuộc ấy. Đọc Đỗ Anh Vũ, tôi thấy Nguyễn Bính càng trở về cái quê cụ thể, ông càng trở thành một thi sĩ lãng mạn. Bởi cái làng quê trong thơ Nguyễn Bính không đơn thuần là hiện thực được nhìn bằng mắt. Nó là quê hương đã được ký ức, tình yêu và nỗi mất mát làm cho đẹp lên. Cảnh quê trong thơ ông mang tính “cõi mộng”, được nhìn bằng tâm tưởng và hoài niệm.
Cuốn sách của Vũ cho người ta thêm yêu thơ, không chỉ bằng trực cảm mà bằng cả một nền tảng tri thức để cái trực cảm đó mạnh mẽ và tự tin hơn…

Nguyễn Bính không chỉ để đọc mà còn để nghe
Việc đưa các bản nhạc phổ thơ Nguyễn Bính của Phạm Duy, Nguyễn Tài Tuệ, Nguyễn Đình Phúc, Từ Vũ, Huy Thục, Tô Thanh Tùng, Đức Quỳnh, Văn Phụng vào sách là một chi tiết rất đáng giá. Bởi Nguyễn Bính không chỉ là một nhà thơ để đọc. Ông còn là một nhà thơ để nghe.
Thơ Nguyễn Bính có một phẩm chất đặc biệt: câu thơ rất gần với lời ăn tiếng nói, nhịp điệu dân ca, ca dao, nên khi bước sang âm nhạc, nó không bị “đóng khung” trong trang giấy. Một số nhạc sĩ nói rằng thơ lục bát rất khó phổ nhạc nhưng thơ Nguyễn Bính lại gợi lên một giai điệu, rồi từ giai điệu ấy lại trở về với đời sống bằng một cách khác.
Trong sách, trang 530 có “Một góc nhìn về Tỳ Bà truyện của Nguyễn Bính” (1918-1966), là một chuyên luận thú vị. Đỗ Anh Vũ cho biết: “Đây là một tác phẩm còn ít được nhắc đến khi các nhà phê bình nghiên cứu bàn về sự nghiệp văn học của thi sĩ chân quê. Nguyễn Bính viết Tỳ Bà truyện để tham gia dự giải văn học Nam Xuyên năm 1944, tác phẩm này đã giành giải nhất. Từ đó đến nay, Tỳ Bà truyện hầu như bị lãng quên trong đời sống văn học Việt Nam”.
Nguyễn Bính đã mượn cốt truyện của vở tuồng Tỳ Bà Ký của Cao Minh đời Minh để viết truyện thơ Tỳ Bà truyện. Ông giữ nguyên phần lớn nội dung, chỉ thay đổi đoạn kết. Nguyễn Bính cố tình thay đổi kết cấu, theo nguyên tắc tạo ra một kết thúc mới nhằm phá vỡ lối mòn kết thúc có hậu trong những truyện thơ Việt Nam của các thời kỳ trước đó.
Một trong những đóng góp quan trọng và đặc sắc của Tỳ Bà truyện là tác giả đã có nhiều đoạn tả về tính dục. Bản thân việc tả về tính dục vốn là một điều cấm kỵ bất thành văn trong thi pháp văn học trung đại, một lối thi pháp chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo đức Nho giáo, quy định con người tránh nói đến những tình cảm riêng tư (tính phi ngã), cụ thể là không được nói về tình yêu lứa đôi, nói gì đến những miêu tả tính dục hay, theo ngôn ngữ hiện đại, là tả về quan hệ nam - nữ.
Trước Nguyễn Bính, văn chương bác học thời kỳ trung đại Việt Nam, đáng kể nhất là Nguyễn Du, cũng chỉ có hai câu: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”… Và bài thơ Ngủ ngày của Hồ Xuân Hương… Nhưng trong Tỳ Bà truyện cả một đoạn dài…
Nhắc đến để thấy Đỗ Anh Vũ kỹ càng, say mê Nguyễn Bính đến dường nào.
Từ “Hỗn luận”, “Mê luận”, “Bất luận” đến “Chuyên luận”
Trước cuốn về Nguyễn Bính, Đỗ Anh Vũ đã có: Vẻ đẹp của yêu tinh (Hỗn luận); Lảo đảo giữa nhân gian (Mê luận); Mây trong đáy cốc (Bất luận) và bây giờ là Nguyễn Bính - Một cõi thơ lãng mạn (Chuyên luận).
Ba chữ Hỗn - Mê - Bất nghe có vẻ nghịch ngợm, thậm chí có chút chơi chữ; nhưng đằng sau cái vẻ “hóm hỉnh” ấy lại là một người rất có ý thức về ngôn ngữ và rất nghiêm túc với việc đọc văn chương. Mây trong đáy cốc được giới thiệu là phần tiếp theo của “tam bộ khúc” ấy.
Hỗn luận; Mê luận; Bất luận và bây giờ Chuyên luận, một sự chuyển động rất thú vị, tự nhiên mà lại như có ý đồ từ trước. Vũ tự do trong tiểu luận, chơi với ngôn ngữ, mở rộng biên giới phê bình, rồi trở về một công trình nghiên cứu có tính chuyên biệt cao. Nhưng không từ bỏ sự hóm hỉnh và cái duyên của người viết.
Đỗ Anh Vũ vui buồn cùng Nguyễn Bính. Anh viết trong lời đầu sách: “Thực ra, những bài thơ đầu tiên của Nguyễn Bính đã đến với tôi từ thuở mới biết đọc, biết viết qua cuốn sổ chép thơ của mẹ tôi. Mẹ tôi sinh năm 1941. Những bài thơ của Nguyễn Bính mẹ tôi chép vào sổ khi tuổi còn đôi mươi, đến nay giấy và mực đã phai màu nhưng tôi vẫn còn giữ được”.
Bài thơ đầu tiên anh đọc được chính là bài Hai lòng: “Lòng anh như hoa hướng dương/ Trăm ngàn đổ lại một phương, mặt trời/ Lòng em như cái con thoi/ Thay bao nhiêu suốt mà thoi vẫn lành”. Cái âm hưởng, giọng điệu, câu chữ mộc mạc và chân tình, tha thiết của thơ Nguyễn Bính có lẽ đã ám vào anh từ những ngày xa xưa ấy. Để càng về sau, anh càng nhận thấy thơ Nguyễn Bính đích thực là tiếng nói của hồn quê Việt Nam.
Bảo sao người ta vẫn kể rằng các bài lục bát của Nguyễn Bính được chọn làm lời hát ru cho trẻ thơ suốt ba miền đất nước, rồi trên các bến tàu, bến xe, các tiết mục hát xẩm cũng sử dụng rất nhiều thơ Nguyễn Bính chứ không phải là thơ ai khác. Cuốn sách này tạm thời khép lại một hành trình để tiếp tục mở ra những hành trình khác trên con đường nghiên cứu của tôi…
Chúc cho Đỗ Anh Vũ tiếp tục nghiên cứu, say mê thơ của các tác giả Việt, của nhân loại nói chung và thơ ca của từng cá nhân mà anh yêu quý.

Đỗ Anh Vũ sinh năm 1980, quê Thường Tín, Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn anh về công tác tại Viện Ngôn ngữ học, Viện Hàn lâm khoa học Xã hội Việt Nam, sau đó chuyển sang làm biên tập viên, Ban Văn học Nghệ thuật, Đài Tiếng nói Việt Nam.





