Văn hóa

Tả quân Lê Văn Duyệt qua mối quan hệ với người dân Nam Bộ

Phạm Xuân Nguyên 12/09/2026 11:59

Ở tuổi 80, nhà thơ Thanh Thảo viết trường ca "Người tiên phong đưa Sài Gòn mở" cửa gồm 600 câu thơ về Tả quân Lê Văn Duyệt, tập trung vào mối quan hệ giữa vị Tả quân và người dân Nam Bộ, cùng những đóng góp của ông với Gia Định - Sài Gòn.

"Chỉ Người biết lẽ công bằng cho Duyệt"

Chữ Người được viết hoa như chữ Duyệt trong câu thơ trên. “Người” đây là dân, nhân dân, điệp trùng vô danh những hữu hình trong lịch sử. “Duyệt” đây là Lê Văn Duyệt, là Tả quân Tổng trấn Gia Định thành, một nhân vật lịch sử bằng xương thịt.

Lê Văn Duyệt (1763 hoặc 1764 - 1832) quê gốc Quảng Ngãi, sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ, theo chúa Nguyễn Ánh từ lúc khởi nghiệp, dưới triều Nguyễn là quan đại thần chức Tả tướng quân, phục vụ hai triều vua Gia Long và Minh Mạng, hai lần được cử làm Tổng trấn thành Gia Định. Ông đã có nhiều công xây dựng, phát triển thành Gia Định, chăm sóc đời sống người dân, và có cách ứng xử khéo léo rộng rãi đối với những người phương Tây đến giao thương, buôn bán.

Ông đã từng bị vua Minh Mạng trừng phạt tước hết quan tước, xích xiềng mộ rồi san bằng mộ, mãi đến thời vua Thiệu Trị mới được tha tội và phục chức. Nhưng Lăng Ông nơi có đền thờ và mộ phần ông ở Bà Chiểu (TP.HCM) đến nay người dân vẫn hương khói thờ phụng. Đánh giá Lê Văn Duyệt vẫn là câu chuyện phức tạp trong lịch sử. Nhưng lòng dân luôn vẫn giành cho ông một niềm kính trọng. Và có một nhà thơ đã viết thơ ca ngợi khẳng định ông. Đó là nhà thơ Thanh Thảo.

truongca.webp
Tập trường ca Người tiên phong đưa Sài Gòn mở cửa của Thanh Thảo.

Người tiên phong đưa Sài Gòn mở cửa

Đó là câu thơ thành tên bản trường ca mới nhất (NXB Hội Nhà văn), trường ca thứ 16, của nhà thơ Thanh Thảo. Nhà thơ trong lời mở đầu sách cho biết tại sao lại viết trường ca về Tả quân Lê Văn Duyệt: “Chính là sau khi xem xét vài ý kiến trên mạng xã hội về Tả quân. Tôi không chịu được, vì người viết đã không hiểu gì về lịch sử, lại có những kết luận rất hồ đồ về một vị quan đại thần đã hết lòng vì dân vì nước khi đứng đầu Gia Định thành tới hai lần. Tôi viết trường ca này từ mong muốn nhìn lại công lao và số phận lịch sử của Tả quân Lê Văn Duyệt. Công lao của Lê Văn Duyệt đối với nhân dân vùng đất Nam Bộ là rất lớn” (tr.5-6). Chính vì thế nhà thơ đã lấy cảm hứng Dân để viết về Lê Văn Duyệt, nhìn “Ông Lớn Thượng” (cách gọi thành kính của người dân Nam Bộ) trong quan hệ với Dân với Nước. Và vì nói về Dân, từ Dân nên nhà thơ đã để nhân vật tự nói bằng giọng điệu của mình - một giọng dân dã, khẩu khí Nam Bộ. Đó là chọn lựa nghệ thuật của Thanh Thảo. Có thể nói chọn lựa này đã đắc dụng trong bản trường ca.

Trường ca Người tiên phong đưa Sài Gòn mở cửa dài 600 câu thơ, mở ra và đóng lại bằng khổ thơ lời của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt (ông Sáu Dân) trong trường ca Dạ, tôi là Sáu Dân của chính tác giả:

Tôi nói điều này với các anh

Đừng thương tôi mà nên thương Dân

Ông Lê Văn Duyệt ngày xưa làm như thế

Và Ông được toàn dân kính nể

Người tiên phong đưa Sài Gòn mở cửa

Chính là người giờ trụ ở Lăng Ông

Ai có công với Dân là có công với Nước

Xin khắc ghi điều đơn giản ấy vào lòng. (tr. 19)

Từ lời của hậu thế bản trường ca bắt vào lời của tiền nhân. Thanh Thảo để Lê Văn Duyệt nói đời mình bắt đầu bằng chuyện… đá gà (một thú chơi say mê của Tả quân lúc sinh thời), so sánh mình và Nguyễn Lữ cũng mê đá gà, rồi từ đó nói chuyện theo ai phò ai “thì cũng là cái duyên thôi / gặp ai theo nấy đó là thời”, chuyện cầm quân đánh trận hai phe, nhưng rất nhanh tác giả để Ông nói ngay đến Dân.

Lòng chỉ mong thanh bình mau trở lại

Dân ta lo cơm ăn ngày hai bữa

Bầu trời loang màu khói đốt đồng

Lội sình bắt cá ngoài mương

Canh chua cá lóc rau vườn nước sông

Mẹ cha chín nhớ mười mong

Con đi mở đất mà trông con về (tr. 22)

Đây là mạch tâm tư của Lê Văn Duyệt khi nhớ cha mẹ ở miệt vườn, nhớ những ngày nhỏ trên đồng đất ngập sình. Câu thơ lời nói thể tự do nhưng bất chợt xen những câu lục bát như chùng xuống một nỗi lòng, gói ghém một tâm sự. Trong trường ca này có nhiều những đoạn xen như vậy, nó khiến người đọc cảm được nhiều hơn nỗi lòng của một vị quan đại thần mà nặng nợ với Dân. Nhà thơ cũng có ý để ông dùng nhiều những từ phương ngữ của Nam Bộ như “ăn lấy thảo”, “bắt ghê”, “hết lớn” để biết ông từ dân mà ra.

Vị quan ấy vốn quê cha đất tổ ở Quảng Ngãi. Thanh Thảo có sự đồng cảm lớn với người đồng hương vĩ đại này của mình. Trong trường ca nhà thơ đã có những đoạn cho vị quan đại thần nhớ về nguồn cội ấy: Làng Bồ Đề Mộ Đức/ Nơi cho Duyệt cúi mình tạ ơn Trời Phật/ Mộ Đức cho ân đức nghĩa tình/ Người quê ấy quanh năm vất vả. Từ gốc tổ miền Trung, Lê Văn Duyệt được sinh ra ở đất miệt vườn Nam Bộ “Cũng lam lũ ngoài đồng cùng cây phảng/ Từ đất dấy lên thả phảng cầm gươm”. Ông đã tìm cách vỗ về dân “Bọn cướp sợ ta rồi nghe ta kêu gọi/ Họ trở về cầm phảng làm dân”. Từ vườn Ông xông trận. Từ vườn Ông đứng đầu cả một thành Gia Định. Hai lần làm Tổng trấn thành ông đã tìm cách mở mang, phát triển thành cho người dân được sống an bình. Ông tự hào đã đổ máu, đổ mồ hôi và trí óc cho Gia Định thành ngày ấy:

Rồi Sài Gòn ai đã đặt tên

Mở cửa đón giao thương toàn thế giới

Dân nơi ấy cõi lòng luôn rộng mở

Hào hiệp thẳng ngay gặp bạn là chơi

Chất Sài Gòn còn mãi tới muôn đời

Dẫu bao lần đổi thay chế độ

Ta yêu lắm chất người trong sáng đó

Như quả măng cụt lành ngọt mãi vào sâu

(tr.51-52)

Sự giao thương với bên ngoài của Gia Định - Sài Gòn là công của Lê Văn Duyệt. Vì Dân nên vị Tổng trấn đã không ngần ngại mở cửa tiếp đón các phái đoàn, các đội thuyền đến giao lưu thông thương buôn bán với Gia Định. Việc Ông làm đó không đúng ý nhà vua. Triều đình muốn bế quan tỏa cảng. Nhưng Ông thì nghĩ khác:

Lần đầu tiên tàu Hoa Kỳ cập bến

Tả quân tiếp đãi rất chân tình

Mời người Mỹ tới đất này buôn bán

Dù xa xôi chúng ta là anh em

(tr.35-36)

Ông không muốn dân mình chỉ buôn bán với Tây mà còn phải học dân Tây:

Dân ta muốn bằng người thì phải học

Nhìn dân Tây họ giỏi biết bao nhiêu

Dân ta lam lũ đã nhiều

Không được học thì làm sao tiến bộ

Muốn Khai Sáng ngon lành như Tây đó

Thì phải mở Trường Thi gấp rút chọn người tài

(tr.43)

Cố nhiên những lời thơ này làm lời nói của Lê Văn Duyệt là theo cách nói người nay. Nhưng đó là cách nhà thơ diễn đạt tư tưởng, ý muốn của vị quan Tổng trấn đã từng nghĩ cho người dân dưới quyền mình từ hơn hai trăm năm trước. Với Ông làm quan là phải lo cho Dân Những việc ta làm cho Nam Bộ / Cuối cùng là để cho Dân.

Khi chết rồi ta mới biết

Mình được Dân thương đến thế nào

Vua thì cũng chỉ một đời

Dân thì vạn đại được trời đất thương

Ta không mong thành tấm gương

Những gì làm được cũng thường thường thôi

Miếng cơm manh áo ở đời

Dân no ấm là ta vui lắm rồi

(tr.27-28)

Bản trường ca Người tiên phong đưa Sài Gòn mở cửa không viết theo lối tự sự biên niên đi theo các dấu mốc, các sự kiện cuộc đời của Lê Văn Duyệt, mà như đã nói, Thanh Thảo làm lời độc thoại của vị Tả quân Tổng trấn từ hai thế kỷ trước, từ phút sắp vĩnh biệt trần gian nhìn lại cuộc đời mình, sự nghiệp mình, ngẫm nghĩ về nhân tình thế thái, về biến thiên thời cuộc, về ý nghĩa nhân sinh một con người. Những đoạn thơ nói nỗi lòng của Ông Lớn Thượng với cha mẹ, với người hầu cận khiến người đọc chùng lòng thương cảm ông:

Con chỉ muốn chèo xuồng đánh cá

Xuồng ba lá nhớ sao xuồng ba lá

Những đêm khuya lặng lẽ ngắm sao rơi

Mừng thấy chiếc xuồng con đầy tôm cá

Đời như thế ấm êm lành lặn quá

Mẹ chờ con nhất định con sẽ về

Bông điên điển nấu cá linh hầu mẹ

Mẹ con mình cùng hưởng thú chân quê

(tr.40-41)

Cuối cùng cái còn lại với Lê Văn Duyệt, trong thơ Thanh Thảo, là Dân: Trên đời sống mãi là Dân/ Những người nhỏ bé khiến trần gian to. So với Dân mọi ngôi cao vọng trọng đều là thấp bé. Dân đã cho Ông một thái độ: Không bao giờ dùng ngự tửu vua ban / Ta thanh thản uống chén trà mỗi sáng. Dân đã cho Ông một tư thế: Làm vua cũng chỉ là người / Đâu phải thánh thần mà ta quỳ lạy. Dân đã cho Ông một phẩm cách: Ta không cao hơn lão Đệ / Vua chẳng cao hơn ta.

Và bản tổng kết đời mình Lê Văn Duyệt nói qua lời thơ Thanh Thảo là thế này:

Ai sống trên đời này cũng vậy

Làm được gì cho Dân thì dân quý dân thương

Ta dầu dãi bao năm ngủ gió nằm sương

Lúc ngồi trên ghế Tả quân mần việc

Ta ngay thẳng nên nhiều khi chịu thiệt

Trên mộ ta có kẻ đặt xích xiềng

Nhưng ta bay lên trời cùng gió chướng

Không xích xiềng nào xích được ta đâu

Dù ai đó tham tàn hay bạc nghĩa

Sẽ có bao người âm thầm nhớ đến ta

Người vì Dân thì chẳng bao giờ sợ

Những ai lãng quên mình

(tr.53-54)

Nhà thơ Thanh Thảo viết bản trường ca Người tiên phong đưa Sài Gòn mở cửa 600 câu thơ ở tuổi 80 và chỉ trong 4 ngày. “Chắc chắn Đức Ngài Lê Văn Duyệt đã phù hộ cho tôi khi viết trường ca này”, ông nói. Tôi đọc trường ca được lây cảm xúc cuồn cuộn của nhà thơ về ngài Tả quân. Đây là một trường ca khác lạ của Thanh Thảo. Viết về một nhân vật lịch sử và cũng để nhân vật nói ra chuyện mình thì ông đã có trường ca Đêm trên cát viết về Cao Bá Quát nhiều tầng lớp, đầy suy tư sâu sắc. Nhưng ở Người tiên phong đưa Sài Gòn mở cửa Thanh Thảo lại chọn một cách viết trực tiếp, mộc mạc, như để Lê Văn Duyệt nói thẳng với người đọc bằng kiểu nói và lời lẽ của người nông dân Nam Bộ. Tôi nghĩ bằng cách viết đó nhà thơ đã đưa được vị Tả quân Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt mất gần hai trăm năm trước về lại hôm nay trình hiện (để dùng một chữ thời thượng hiện nay) trước Dân:

"Đa tạ người Dân đa tạ nhân tình

Chỉ Người biết lẽ công bằng cho Duyệt".

Phạm Xuân Nguyên