Nông nghiệp thông minh

Sản xuất nông nghiệp thông minh phải có hệ thống tiêu thụ thông minh

Văn Kim Khanh 14/09/2026 08:54

Liên kết doanh nghiệp, hợp tác xã và dữ liệu số giúp lúa gạo nâng giá trị, ổn định đầu ra, mở rộng thị trường.

Nông nghiệp thông minh: Đầu ra phải đi trước sản xuất

TS. Trần Minh Hải, Phó hiệu trưởng Trường Chính sách Công & Phát triển Nông thôn cho rằng: “Trong Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, câu chuyện sản xuất không còn dừng ở việc làm ra hạt lúa đạt chuẩn. Vùng nguyên liệu chỉ thực sự tạo giá trị khi sản phẩm có người mua, có hợp đồng và đi được đến thị trường. Vì vậy, liên kết tiêu thụ trở thành mắt xích quyết định để biến thay đổi kĩ thuật thành lợi ích kinh tế cho nông dân, hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp”.

LÚA GẠO 1
TS. Trần Minh Hải, Phó hiệu trưởng Trường Chính sách công & Phát triển Nông thôn trả lời nông dân về hệ thống tiêu thụ lúa gạo. Ảnh: Văn Kim Khanh

Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp & Môi trường (NN&MT) Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao (gọi tắt là Đề án) đã đạt khoảng 40% kế hoạch, tương đương khoảng 400.000 ha lúa được áp dụng đúng quy trình. Nông dân giảm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, quản lí nước theo phương pháp ngập - khô xen kẽ và chuyển từ bán qua thương lái sang hợp đồng với doanh nghiệp.

Ông Trần Văn Hai, Giám đốc HTX Dịch vụ Phú Nông Xanh (xã Vĩnh Điều, tỉnh An Giang) cho rằng: “Nếu sản phẩm làm ra mới tìm nơi tiêu thụ lúc thu hoạch, rủi ro vẫn lớn. Nông dân có thể thiếu thông tin về tiêu chuẩn, giống, quy cách hàng hóa và thời điểm giao nhận. Vì vậy, cần kí hợp đồng liên kết ngay từ đầu vụ. Doanh nghiệp cần công khai giống lúa, tiêu chuẩn chất lượng, quy trình canh tác và yêu cầu kĩ thuật để HTX chủ động sản xuất”.

Đó là cách đưa tư duy thị trường vào đồng ruộng. Khi biết sản phẩm bán cho ai và tiêu chuẩn nào được chấp nhận, HTX hướng dẫn thành viên sản xuất đồng nhất. Doanh nghiệp chủ động vùng nguyên liệu và kế hoạch chế biến, kinh doanh, xuất khẩu.

NNTM 2
Hàng triệu tấn lúa sản xuất theo hướng thông minh yêu cầu phải có hệ thống tiêu thụ thôngminh. Ảnh: Trung Chánh

Dữ liệu trở thành cầu nối chuỗi

Bà Trần Thị Kim Thuý, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt & Bảo vệ thực vật TP. Cần Thơ, cho rằng yêu cầu của Đề án là đồng bộ quy trình sản xuất, tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi và số hóa dữ liệu. ViRiCert được giới thiệu như công cụ số hóa nhật kí và dữ liệu canh tác, chuẩn hóa thông tin, hỗ trợ đánh giá mức độ tuân thủ, truy xuất nguồn gốc và tạo minh chứng dữ liệu.

Một dữ liệu có thể phục vụ đánh giá quy trình, quản lí vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, kết nối doanh nghiệp và hỗ trợ hệ thống MRV. Dữ liệu minh bạch cũng củng cố niềm tin trong hợp đồng liên kết. ViRiCert được xác định không chỉ phục vụ quản lí sản xuất mà còn hỗ trợ phát triển thị trường, chứng nhận, liên kết tiêu thụ và xuất khẩu.

TIÊU THỤ LÚA 2
Nông nghiệp ĐBSCL đang chuyển hướng theo nông nghiệp thông minh. Ảnh: T.L

Kết quả bước đầu ứng dụng ViRiCert cho thấy công cụ đã được tập huấn, hướng dẫn tại 30 HTX; 30/171 HTX, tổ chức nông dân đã được đánh giá và 82% đạt hoặc cơ bản đạt tiêu chí. Số hóa giúp chuyển đánh giá từ hồ sơ giấy sang dữ liệu có cấu trúc, đồng thời chỉ ra nội dung cần khắc phục.

Kết quả đánh giá cũng phản ánh hạn chế trong thực hành. Tài liệu ghi nhận tỉ lệ điểm liệt liên quan đến việc không rút nước đủ hai lần giữa vụ là 28%, đốt rơm 35% và đốt rạ 34%. Ở quản lý rơm, 60% cá nhân thu gom, 35% đốt rơm và 5% vùi rơm. Những dữ liệu này giúp xác định vùng nguyên liệu đáp ứng yêu cầu và vùng cần hỗ trợ trước khi kí hợp đồng.

Theo TS. Trần Minh Hải, mục tiêu cốt lõi là tạo ra dòng sản phẩm có thể tiêu thụ, mang lại lợi nhuận cho người trồng lúa và doanh nghiệp; giảm phát thải cần được xem là phần tạo giá trị gia tăng, không nên chỉ tập trung vào tín chỉ carbon mà quên mục tiêu tiêu thụ sản phẩm”.

HTX giữ vai trò trung tâm

Trong chuỗi liên kết, HTX không chỉ tập hợp nông dân mà phải trở thành đầu mối tổ chức sản xuất, hướng dẫn thành viên, tổng hợp và kiểm tra dữ liệu. Đây là vị trí biến yêu cầu của doanh nghiệp thành quy trình cụ thể trên đồng ruộng và phản hồi khó khăn của nông dân. Kinh nghiệm triển khai ViRiCert cũng xác định HTX là trung tâm tổ chức, hướng dẫn và quản lí thông tin sản xuất.

LUA GAO 2
Ông Trần Văn Hai, Giám đốc HTX Dịch vụ Phú Nông Xanh (An Giang) trình bày về sản xuất lúa theo Đề án 1 triệu ha. Ảnh: Văn Kim Khanh

Công nghệ muốn đi vào sản xuất phải đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện. Người dân cần được hướng dẫn trực tiếp; bộ tiêu chí phải rõ ràng. Đánh giá cũng cần nhằm hỗ trợ chứ không chỉ để kiểm tra, bởi kết quả phải chỉ ra tiêu chí đã đạt, chưa đạt và nội dung cần khắc phục.

Từ góc độ tiêu thụ, HTX càng có dữ liệu tốt càng có cơ sở đàm phán với doanh nghiệp. Nhật kí sản xuất, dữ liệu truy xuất và minh chứng quy trình giúp vùng nguyên liệu thuận lợi hơn trong xây dựng thương hiệu, chứng nhận, tiêu thụ và xuất khẩu. Khi chất lượng được chuẩn hóa, doanh nghiệp đặt hàng theo tiêu chuẩn và phân khúc thị trường.

Đối với mô hình lúa - tôm tại Kiên Giang và Cà Mau, tài liệu hội thảo đánh giá sản phẩm có chất lượng rất tốt nhưng liên kết giữa HTX và doanh nghiệp tại Cà Mau còn một số vướng mắc. Giải pháp là các bên thống nhất bộ tiêu chí rõ ràng ngay từ đầu vụ, qua đó thiết lập hợp đồng liên kết bền vững. Điều này cho thấy mỗi mô hình cần phương thức tiêu thụ phù hợp.

Theo TS. Trần Minh Hải, muốn liên kết bền vững, doanh nghiệp cũng phải tham gia sớm hơn, cùng HTX xác định giống, tiêu chuẩn, quy trình, sản lượng dự kiến và yêu cầu giao nhận. Ngân hàng, tổ chức tín dụng và đơn vị công nghệ cần hỗ trợ vốn, kĩ thuật và dữ liệu. Cơ quan quản lí tiếp tục làm cầu nối.

Đích đến của sản xuất thông minh không phải là có thêm ứng dụng hay bộ dữ liệu, mà là tạo ra chuỗi giá trị hiệu quả. Sản xuất thông minh phải biết thị trường cần gì; tiêu thụ thông minh phải dựa trên dữ liệu từ đồng ruộng. Khi hợp đồng được kí từ đầu vụ, tiêu chuẩn minh bạch, quy trình được giám sát và sản phẩm có dữ liệu chứng minh, người trồng lúa mới giảm được rủi ro đầu ra.

Thời gian tới, định hướng là mở rộng ViRiCert tới HTX, tổ chức nông dân và vùng nguyên liệu; tích hợp dữ liệu với cơ sở quản lí mã số vùng trồng; ứng dụng dữ liệu số trong hậu kiểm, truy xuất và MRV; đồng thời kết nối dữ liệu với doanh nghiệp. Đây là nền tảng để liên kết sản xuất - tiêu thụ chuyển sang chuỗi minh bạch, ổn định, lâu dài.

Đề án 1 triệu ha cần được nhìn bằng khả năng tạo sản phẩm chất lượng, có thị trường và lợi nhuận. Khi đầu ra được thiết kế từ đầu vụ, dữ liệu trở thành bằng chứng và HTX là trung tâm liên kết, hạt gạo phát thải thấp trở thành sản phẩm giá trị cao bền vững.

Nổi bật
      Mới nhất
      Sản xuất nông nghiệp thông minh phải có hệ thống tiêu thụ thông minh
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO