Thương hiệu quốc gia 2026: Đổi mới sáng tạo trở thành thước đo mới
Theo Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng, số doanh nghiệp có sản phẩm đạt danh hiệu đã tăng hơn 7 lần sau 10 kỳ xét chọn.
Từ 359 sản phẩm của 190 doanh nghiệp năm 2024 lên 499 sản phẩm của 227 doanh nghiệp năm 2026, Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam tiếp tục mở rộng.
Đáng chú ý hơn, trọng số dành cho đổi mới sáng tạo tăng từ 18% lên 30%, cho thấy yêu cầu mới đối với doanh nghiệp không chỉ là làm ra sản phẩm tốt, mà còn phải làm chủ công nghệ, tạo ra giá trị và xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững.
Số lượng tăng nhanh, phạm vi thương hiệu ngày càng rộng
Tối 16/10, tại Hà Nội, lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026 đã vinh danh 499 sản phẩm, dịch vụ của 227 doanh nghiệp, với chủ đề “Dòng chảy thương hiệu Việt”.
Đây là kết quả đáng chú ý sau 23 năm triển khai chương trình. Từ 30 doanh nghiệp với 50 sản phẩm được công nhận năm 2008, số doanh nghiệp có sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia đã tăng lên 227, số sản phẩm lên 499. Theo Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng, số doanh nghiệp có sản phẩm đạt danh hiệu đã tăng hơn 7 lần sau 10 kỳ xét chọn.
So với kỳ xét chọn năm 2024, quy mô năm nay tiếp tục mở rộng đáng kể. Khi đó, có 190 doanh nghiệp với 359 sản phẩm được công nhận. Như vậy, sau hai năm, số doanh nghiệp tăng 37, tương đương khoảng 19,5%; số sản phẩm tăng 140, tương đương gần 39%.
Tốc độ tăng số sản phẩm cao hơn tốc độ tăng số doanh nghiệp cho thấy danh mục sản phẩm được công nhận đang mở rộng. Tuy nhiên, chỉ từ những con số này chưa thể kết luận chất lượng thương hiệu đã tăng tương ứng, bởi số lượng sản phẩm được công nhận không đồng nghĩa với mức tăng tương ứng về doanh thu, giá trị thương hiệu hay năng lực xuất khẩu.
Một điểm đáng chú ý khác là tính liên tục của chương trình. Theo Bộ Công Thương, có 14 doanh nghiệp giữ vững danh hiệu qua cả 10 kỳ xét chọn và 84 doanh nghiệp được công nhận từ 5 kỳ trở lên. Đây là nhóm doanh nghiệp có quá trình duy trì các tiêu chuẩn của chương trình trong thời gian dài, dù để đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh doanh cần thêm dữ liệu về doanh thu, thị phần, xuất khẩu và mức độ nhận diện thương hiệu.
Danh mục năm 2026 hiện diện ở nhiều lĩnh vực, từ công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp, thực phẩm, dược phẩm, thiết bị y tế đến tài chính, ngân hàng, viễn thông, công nghệ, vận tải, logistics, thương mại và dịch vụ.
Sự đa dạng này phản ánh phạm vi xây dựng thương hiệu Việt không còn giới hạn trong những mặt hàng tiêu dùng quen thuộc, mà mở rộng sang sản phẩm công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao.

Tuy nhiên, danh sách tổng hợp theo lĩnh vực chưa cung cấp số liệu phân bổ đầy đủ để xác định chính xác ngành nào chiếm tỷ trọng lớn nhất, ngành công nghệ có bao nhiêu sản phẩm hay tỷ trọng từng ngành thay đổi thế nào qua các kỳ. Vì vậy, chưa có đủ căn cứ để khẳng định một ngành cụ thể đang dẫn đầu hoặc ngành công nghệ tăng nhanh nhất về số lượng sản phẩm đạt danh hiệu.
Đổi mới sáng tạo tăng trọng số, tiêu chí đánh giá thay đổi thực chất
Điểm mới đáng chú ý nhất của kỳ xét chọn năm 2026 nằm ở cách đánh giá năng lực doanh nghiệp.
Theo thông tin được công bố tại lễ vinh danh, trọng số dành cho đổi mới sáng tạo được nâng từ 18% lên 30% tổng thang điểm. Đây là mức tăng 12 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 66,7% so với trọng số trước đó.
Sự thay đổi này diễn ra trong bối cảnh khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một sản phẩm có chất lượng tốt vẫn có thể gặp khó khăn nếu doanh nghiệp không cải tiến công nghệ, không kiểm soát được chi phí, không bảo vệ được sở hữu trí tuệ hoặc không đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường.
Theo Bộ Công Thương, công tác xét chọn năm 2026 cũng là kỳ đầu tiên triển khai các nội dung sửa đổi tại Quyết định số 03/2026/QĐ-TTg ngày 20/1/2026, sửa đổi, bổ sung quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam.
Quá trình thẩm định không chỉ dừng ở hồ sơ sản phẩm mà đi sâu hơn vào năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tài sản trí tuệ.
Các doanh nghiệp được công nhận năm nay sở hữu gần 5.700 nhãn hiệu, sáng chế, giải pháp hữu ích và hơn 2.400 chứng chỉ, tiêu chuẩn quốc tế. Những con số này cho thấy nền tảng sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn hóa có vai trò đáng kể trong hệ sinh thái doanh nghiệp đạt danh hiệu.
Dẫu vậy, không nên đồng nhất số lượng nhãn hiệu, sáng chế với năng lực đổi mới sáng tạo thực chất. Điều quan trọng còn nằm ở việc các tài sản trí tuệ đó được thương mại hóa ra sao, đóng góp thế nào vào doanh thu, năng suất, chất lượng và khả năng tạo ra sản phẩm mới.
Việc tăng trọng số đổi mới sáng tạo vì thế có ý nghĩa như một tín hiệu chính sách: doanh nghiệp muốn duy trì sức cạnh tranh phải đầu tư cho năng lực cốt lõi, thay vì chỉ dựa vào lợi thế chi phí hoặc uy tín đã tích lũy.
Đây cũng là hướng đi phù hợp với yêu cầu chuyển dịch từ gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế và làm chủ công nghệ. Khi thị trường ngày càng đòi hỏi sản phẩm xanh, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn quốc tế, năng lực đổi mới sẽ quyết định khả năng doanh nghiệp giữ khách hàng, mở rộng thị trường và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.
Giá trị thương hiệu Việt tăng, nhưng xuất khẩu vẫn là phép thử
Theo Brand Finance, giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026 đạt 462,279 tỉ USD, tăng 45,14% so với năm 2020, xếp thứ 32 trong 193 quốc gia được xếp hạng.
Cũng theo số liệu được công bố tại buổi họp báo về chương trình, tỷ lệ doanh nghiệp có sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia trong nhóm 50 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam tăng từ 42% năm 2020 lên 50% năm 2026. Trong nhóm 10 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam năm nay, có 5 doanh nghiệp sở hữu sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia, chiếm khoảng 69,1% tổng giá trị của nhóm.
Những con số này cho thấy mối liên hệ giữa các doanh nghiệp được công nhận và nhóm thương hiệu có giá trị cao trên thị trường trong nước. Tuy nhiên, cần phân biệt giá trị Thương hiệu quốc gia do Brand Finance đánh giá với giá trị riêng của từng doanh nghiệp hoặc sản phẩm. Đây là những chỉ số khác nhau, không thể dùng thay thế cho nhau.
Ở góc độ đóng góp kinh tế, theo thông tin tại lễ công bố, năm 2025, các doanh nghiệp được vinh danh đạt doanh thu hơn 2,5 triệu tỉ đồng, nộp ngân sách nhà nước trên 133.000 tỉ đồng và tạo việc làm ổn định cho hơn 760.000 lao động.
Đây là quy mô đóng góp đáng kể. Song, câu hỏi quan trọng không chỉ là các doanh nghiệp đạt doanh thu bao nhiêu, mà còn tạo ra bao nhiêu giá trị từ thương hiệu, công nghệ và thiết kế do mình làm chủ.
Một điểm nghẽn được Thủ tướng Lê Minh Hưng chỉ ra tại buổi lễ là doanh thu xuất khẩu của các doanh nghiệp có sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia mới chiếm khoảng 11% doanh thu của chính các doanh nghiệp này, tương đương khoảng 2,3% kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Con số này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận danh hiệu không chỉ như sự ghi nhận thành tích, mà còn là điểm khởi đầu cho quá trình nâng cấp năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp có thể có sản phẩm tốt và thị trường nội địa vững chắc, nhưng để tạo dựng vị thế quốc tế còn cần hệ thống phân phối, dịch vụ hậu mãi, khả năng bảo vệ sở hữu trí tuệ và năng lực thích ứng với từng thị trường.
Danh hiệu phải trở thành lợi thế cạnh tranh thực sự
Thương hiệu quốc gia là chương trình xúc tiến thương mại đặc thù, dài hạn của Chính phủ, được phê duyệt từ năm 2003. Ba giá trị cốt lõi của chương trình là chất lượng, đổi mới sáng tạo và năng lực tiên phong.
Danh hiệu có thể hỗ trợ doanh nghiệp củng cố uy tín, quảng bá sản phẩm và tạo thêm niềm tin với khách hàng. Tuy nhiên, đây không phải sự bảo đảm rằng mọi sản phẩm mang danh hiệu đều sẽ thành công về thương mại, càng không thay thế được đánh giá của thị trường về chất lượng và giá trị sử dụng.

Thực tế, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu doanh nghiệp không chỉ tạo ra sản phẩm tốt mà còn phải xây dựng thương hiệu mạnh, làm chủ giá trị và thị trường. Doanh nghiệp cần đầu tư thực chất vào nghiên cứu phát triển, công nghệ, thiết kế, sáng chế; nâng cao giá trị nội địa, mở rộng thị phần và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với cơ quan quản lý, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện tiêu chí về công nghệ, đổi mới sáng tạo, giá trị nội địa, thị phần và tiêu chuẩn xanh; tăng cường hậu kiểm, thu hồi danh hiệu khi doanh nghiệp không còn đáp ứng các điều kiện. Danh hiệu chỉ giữ được uy tín khi tiêu chuẩn được áp dụng nhất quán và có cơ chế giám sát sau công nhận.
Một nhiệm vụ khác là gắn thương hiệu quốc gia với thương hiệu ngành, địa phương, doanh nghiệp và sản phẩm; hỗ trợ xúc tiến thương mại, bảo hộ tài sản trí tuệ và xây dựng hiện diện lâu dài tại thị trường nước ngoài.
Từ 30 doanh nghiệp năm 2008 lên 227 doanh nghiệp năm 2026 là một chặng đường đáng ghi nhận. Nhưng bước phát triển tiếp theo không thể chỉ được đo bằng số doanh nghiệp hay số sản phẩm được vinh danh.
Thước đo quan trọng hơn là bao nhiêu doanh nghiệp làm chủ được công nghệ, bao nhiêu sản phẩm tạo ra giá trị gia tăng cao, bao nhiêu thương hiệu đủ sức cạnh tranh quốc tế và bao nhiêu doanh nghiệp có thể duy trì vị thế bằng chất lượng, đổi mới và chữ tín.
Khi đó, Thương hiệu quốc gia mới thực sự vượt khỏi ý nghĩa của một danh hiệu để trở thành lợi thế cạnh tranh chiến lược của nền kinh tế Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng phát biểu tại lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026 - Ảnh: chinhphu.vn



