Kinh tế

Xuất khẩu thủy sản: 8 tháng 8 tỉ USD, và bài toán 'lèo lái' giữa các trụ tăng trưởng

Thế Lâm 08/09/2026 11:16

Sau 8 tháng, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt khoảng 8 tỉ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ. Nhưng phía sau con số tăng trưởng 2 chữ số là những thay đổi đáng chú ý.

8 tháng kim ngạch xuất khẩu đạt 8 tỉ USD, tăng 11,8%

Tháng 8/2026, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 1,14 tỉ USD, tăng 6% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng đạt 8 tỉ USD, tăng 11,8%. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đang có dấu hiệu chậm lại khi 7 tháng đầu năm ngành đạt mức tăng trưởng 12,8%.

Tôm tiếp tục là mặt hàng chủ lực, đạt 3,29 tỉ USD sau 8 tháng, tăng 12,3% và chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch. Trong đó, xuất khẩu tôm sang Trung Quốc - Hồng Kông đạt 1,13 tỉ USD, tăng 37,6%. Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN cũng ghi nhận mức tăng đáng kể.

Cá tra đạt khoảng 1,5 tỉ USD, tăng 9%. Đáng chú ý, tăng trưởng của cá tra đang đến nhiều hơn từ các thị trường ngoài Mỹ: Trung Quốc - Hồng Kông tăng 26,5%; trong khi EU tăng 11,4% lũy kế, đạt 131,7 triệu USD.

Một số nhóm hàng khác cũng tăng khá tốt, như mực và bạch tuộc đạt 524 triệu USD, tăng 14,4%; cua ghẹ và giáp xác đạt 304,9 triệu USD, tăng 34%; nhuyễn thể hai mảnh vỏ đạt 209,6 triệu USD, tăng 30,8%.

Ngành chế biến thủy sản được cho là sẽ được hưởng lợi từ mức thuế đối ứng mới của Mỹ.
Ngành chế biến thủy sản xuất khẩu được cho là sẽ hưởng lợi từ mức thuế đối ứng mới của Mỹ.

Thị trường Mỹ giảm tỉ trọng, châu Á "lên ngôi"

Thị trường Trung Quốc - Hồng Kông đạt 2,03 tỉ USD sau 8 tháng, tăng tới 33,4%, chiếm 25,35% tổng kim ngạch. Riêng phần tăng thêm của thị trường này khoảng 508,6 triệu USD, tương đương 60,17% mức tăng của toàn ngành. Đây là con số cho thấy vai trò đặc biệt lớn của thị trường Trung Quốc - Hồng Kông trong tăng trưởng năm nay. ASEAN cũng nổi lên với 544,9 triệu USD, tăng 20%. Nhật Bản đạt 1,11 tỉ USD, tăng 2%; Hàn Quốc đạt 566,3 triệu USD, tăng 4,9%.

Trong khi đó, xuất khẩu thủy sản sang thị trường Mỹ đang có dấu hiệu suy yếu. Tháng 8, xuất khẩu sang Mỹ giảm 11,4%, còn 167,74 triệu USD; lũy kế 8 tháng đạt khoảng 1,24 tỉ USD, gần như đi ngang. Riêng tôm sang Mỹ giảm 13,4%, còn 427,6 triệu USD; cá tra giảm 13,9%, xuống 201,7 triệu USD.

Trên website của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), ông Nguyễn Hoài Nam - Tổng Thư ký VASEP – cho biết, trước đây Mỹ thường chiếm khoảng 18-20% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Nhưng thời gian gần đây, tỉ trọng đã giảm xuống còn khoảng 15,5-17%. Dù vậy, ông Nam cho rằng Mỹ vẫn là thị trường chiến lược cần giữ, bởi đây là thị trường có sức mua lớn và phù hợp với thế mạnh về chế biến sâu của doanh nghiệp Việt Nam.

Đâu là lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam không dễ bị sao chép?

Một trong những lợi thế quan trọng của thủy sản Việt Nam là hệ thống doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu tương đối lớn. Theo ông Nguyễn Hoài Nam, Cả nước hiện có khoảng 1.500 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản, trong đó khoảng 1.000-1.100 doanh nghiệp có nhà máy chế biến. Phần lớn năng lực chế biến thuộc doanh nghiệp trong nước và gắn với nguồn nguyên liệu nội địa. Đây là lợi thế mà không phải quốc gia xuất khẩu thủy sản nào cũng có.

xuất khẩu thủy sản tôm quý I.2026-5
Ảnh minh họa

Việt Nam không nhất thiết phải cạnh tranh bằng cách trở thành nơi có nguyên liệu rẻ nhất. Khi phải đối đầu với những đối thủ có quy mô nuôi trồng lớn như Ecuador hay Ấn Độ, lợi thế có thể nằm ở phần giá trị được tạo ra sau nguyên liệu: chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm và đáp ứng những phân khúc có giá bán cao hơn. Tôm tempura, tôm tẩm bột, sản phẩm chế biến sẵn hay thực phẩm tiện lợi là những ví dụ. Với cá tra, dư địa cũng nằm ở việc chuyển từ philê đông lạnh đơn thuần sang portion (phần cá được cắt thành khẩu phần – PV), sản phẩm tẩm gia vị hoặc các dạng chế biến tiện lợi hơn. Ông Nguyễn Hoài Nam cho rằng, chính năng lực chế biến sâu và tạo giá trị gia tăng giúp thủy sản Việt Nam có thể cạnh tranh ngay cả khi giá thành nguyên liệu cao hơn một số đối thủ.

Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam “lèo lái” thị trường: cùng một nguồn nguyên liệu nhưng có thể thiết kế sản phẩm khác nhau cho những thị trường khác nhau, thay vì phụ thuộc vào một dòng sản phẩm và một thị trường.

8 tỉ USD sau 8 tháng cho thấy thủy sản Việt Nam xuất khẩu vẫn đang tăng trưởng tốt. Nhưng cơ cấu tăng trưởng cũng đang gửi đi một thông điệp rõ ràng: không thể “lèo lái” ngành xuất khẩu bằng cách chạy từ thị trường này sang thị trường khác mỗi khi gặp rủi ro. Sự “lèo lái” thực sự phải là củng cố và nâng cao năng lực để giữ những thị trường chiến lược, đồng thời xây thêm những trụ tăng trưởng mới.

Giữ thị trường Mỹ, đo lường trước rủi ro

Mỹ suy yếu không có nghĩa doanh nghiệp có thể dễ dàng thay thế thị trường này bằng Trung Quốc hay ASEAN. Bởi sự thay thế này nếu diễn ra, có thể xảy ra rủi ro. Từ đó, ông Nguyễn Hoài Nam lưu ý, việc duy trì quan hệ với người mua và sự hiện diện trong chuỗi cung ứng phải được xem là chiến lược dài hạn.

Với thị trường Mỹ, bài toán hiện nay cũng không chỉ nằm ở thuế. Doanh nghiệp còn phải đối mặt với chống bán phá giá, chống trợ cấp, MMPA (Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú biển của Mỹ), truy xuất nguồn gốc và nhiều yêu cầu kỹ thuật khác. Riêng với tôm, thuế và kết quả rà soát chống bán phá giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đơn hàng quý IV. Với cá tra, kết quả POR21 không thuận lợi khiến triển vọng tại Mỹ khó phục hồi nhanh.

Chính vì vậy, việc giữ thị trường Mỹ không đồng nghĩa với việc tiếp tục đẩy hàng bằng mọi giá. Quan trọng hơn là phải đo lường trước rủi ro, như chính sách từ phía Mỹ có thể thay đổi thế nào, chi phí tuân thủ ra sao, mức thuế tác động đến giá bán thế nào và khách hàng có khả năng chuyển nguồn cung hay không.

Ông Nguyễn Hoài Nam cho rằng ngành cần một hệ thống cảnh báo sớm, một “radar” chính sách để doanh nghiệp nhận diện rủi ro ngay từ khi chúng bắt đầu hình thành, thay vì chỉ phản ứng sau khi chính sách đã được ban hành.

Củng cố thị trường chiến lược, mở rộng nơi còn dư địa

Thị trường Mỹ vẫn phải được giữ, trong khi thị trường Trung Quốc - Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN và EU cần được nhìn nhận như những trụ tăng trưởng quan trọng cần được bổ sung. Dư địa tại các thị trường này không giống nhau. Nhật Bản phù hợp với sản phẩm chế biến sâu, tiện lợi và giá trị gia tăng. Hàn Quốc đã có vị trí đáng kể và còn nhiều phân khúc để mở rộng. ASEAN có lợi thế về khoảng cách địa lý và logistics. Trung Quốc - Hồng Kông có dung lượng tiêu thụ rất lớn và cơ cấu nhu cầu đa dạng. EU lại là thị trường giá trị cao với lợi thế từ EVFTA. Nhưng theo ông Nguyễn Hoài Nam, muốn bán được nhiều hơn phải hiểu sâu hơn về người mua, đối thủ, phân khúc tiêu dùng và hệ thống phân phối. Đây là lý do hoạt động xúc tiến thương mại cần chuyển từ việc đơn thuần tham gia hội chợ sang nghiên cứu thị trường, kết nối trực tiếp với nhà nhập khẩu, nhà bán lẻ và hệ thống phân phối.

Như vậy, thị trường mới không thể chỉ là nơi để chuyển lượng hàng bị giảm ở Mỹ sang, mà doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam và các tổ chức hỗ trợ phải làm nhiều hơn thế. Đây cũng là bài toán lèo lái thị trường ở cấp độ cao và sâu hơn nhằm nâng sức chống chịu của cả ngành, như tiếp tục nâng tỉ lệ sản phẩm giá trị gia tăng, tăng giá trị tạo ra trong nước, chuẩn hóa vùng nuôi, minh bạch xuất xứ, kiểm soát chất lượng và giảm chi phí logistics, đồng thời cần chủ động hơn trong quản trị rủi ro thương mại.

Nổi bật
      Mới nhất
      Xuất khẩu thủy sản: 8 tháng 8 tỉ USD, và bài toán 'lèo lái' giữa các trụ tăng trưởng
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO