Giảm thuế xăng, giảm giá điện: Người dân vui nhưng đang chờ điều quan trọng hơn
Việc đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0% và giảm 2% giá bán lẻ điện bình quân từ ngày 1/11 là động thái hỗ trợ đáng chú ý trong bối cảnh chi phí sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh còn nhiều sức ép.
Tuy nhiên, điều người dân chờ đợi không chỉ là vài nghìn đồng tiết kiệm khi đổ xăng hay hóa đơn điện giảm đôi chút, mà còn là sự chuyển biến thực sự của mặt bằng giá hàng hóa, dịch vụ.
Xăng giảm gần 1.800 đồng/lít, điện giảm hơn 44 đồng/kWh
Từ ngày 1/11, người tiêu dùng bắt đầu được hưởng lợi từ hai chính sách điều chỉnh giá năng lượng được Chính phủ triển khai đồng thời.
Theo Nghị quyết 45/2026/NQ-CP ngày 31/10/2026, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các loại xăng được đưa về 0%, áp dụng từ ngày 1/11/2026 đến hết ngày 31/3/2027. Trước đó, theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế suất đối với xăng thông thường là 10%, xăng E5 là 8% và E10 là 7%.
Ngay sau khi chính sách có hiệu lực, Bộ Công Thương công bố giá bán xăng mới. Theo đó, xăng E5 RON92 có giá không cao hơn 24.223 đồng/lít, giảm 1.804 đồng/lít; xăng E10 RON95-III còn 24.159 đồng/lít, giảm 1.575 đồng/lít so với giá bán tối đa của kỳ điều hành trước.
Như vậy, mỗi lần đổ 50 lít xăng E5, người tiêu dùng tiết kiệm khoảng 90.200 đồng so với mức giá trước điều chỉnh. Với xăng E10, khoản tiết kiệm tương ứng khoảng 78.750 đồng.

Cùng thời điểm, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) công bố giảm 2% giá bán lẻ điện bình quân, đưa mức giá từ 2.204,0655 đồng xuống còn 2.159,9037 đồng/kWh, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT). Mức giảm tương ứng khoảng 44,16 đồng/kWh.
Đây là lần đầu tiên giá bán lẻ điện bình quân được điều chỉnh giảm kể từ khi cơ chế điều chỉnh giá điện được áp dụng năm 2007, nếu không tính các đợt giảm tiền điện hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong thời kỳ dịch COVID-19.
Theo EVN, việc điều chỉnh được thực hiện sau khi tập đoàn rà soát, tính toán và tiết giảm tối đa chi phí. Bộ Công Thương cũng đã ban hành Quyết định 2892/QĐ-BCT ngày 31/10/2026 quy định giá bán điện cho các nhóm khách hàng, áp dụng từ ngày 1/11.
Cần lưu ý, mức giảm 44,16 đồng/kWh là mức chênh lệch của giá bán lẻ điện bình quân, không phải khoản giảm cố định cho mọi kWh điện trong hóa đơn của từng hộ gia đình. Số tiền thực tế được giảm còn phụ thuộc biểu giá áp dụng cho từng nhóm khách hàng và sản lượng điện tiêu thụ.
Nhìn từ những con số này, có thể thấy chính sách đã nhanh chóng tạo ra tác động trực tiếp đối với chi phí sử dụng năng lượng. Tuy nhiên, mức tiết kiệm đối với từng hộ gia đình, nhất là tiền điện, vẫn còn tương đối khiêm tốn.
Giảm chi phí đầu vào, nhưng giá hàng hóa có giảm theo?
Xăng và điện là hai yếu tố đầu vào có mặt trong hầu hết hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ vận tải, logistics, chế biến thực phẩm đến bán lẻ, lưu trú, ăn uống, nhiều ngành nghề đều chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ giá năng lượng.
Bởi vậy, việc giảm thuế xăng và giá điện không chỉ có ý nghĩa đối với người trực tiếp sử dụng phương tiện, thiết bị điện mà còn có khả năng tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong nền kinh tế.
Khi chi phí nhiên liệu giảm, doanh nghiệp vận tải có thêm điều kiện tiết giảm chi phí vận hành. Khi giá điện giảm, các cơ sở sản xuất, nhà máy, cửa hàng và doanh nghiệp dịch vụ cũng được giảm một phần chi phí thường xuyên. Nếu những khoản tiết kiệm này được chuyển vào giá thành, người tiêu dùng có thể được hưởng lợi thông qua giá hàng hóa và dịch vụ hợp lý hơn.

Đặc biệt, trong bối cảnh sức mua chưa thực sự phục hồi đồng đều, việc giảm chi phí đầu vào còn giúp doanh nghiệp có thêm dư địa duy trì hoạt động, hạn chế áp lực tăng giá bán và cải thiện khả năng cạnh tranh.
Tuy nhiên, giảm giá năng lượng không đồng nghĩa với việc giá hàng hóa lập tức giảm tương ứng. Giá một sản phẩm còn phụ thuộc vào nguyên liệu, nhân công, mặt bằng, lãi vay, chi phí phân phối, tỷ giá và nhiều yếu tố khác. Một doanh nghiệp có thể đã mua nguyên liệu, vận chuyển hàng hóa hoặc ký hợp đồng dịch vụ từ trước với mức chi phí cao. Vì vậy, việc điều chỉnh giá bán cần có độ trễ nhất định.
Đáng nói hơn, thị trường hàng hóa thường có hiện tượng giá tăng nhanh khi chi phí đầu vào tăng nhưng lại chậm giảm khi chi phí này đi xuống. Người tiêu dùng không khó để nhận ra thực tế này qua giá một bữa ăn, ly cà phê, ổ bánh mì hay dịch vụ vận chuyển.
Nếu xăng giảm nhưng giá vận tải không điều chỉnh, điện giảm nhưng giá dịch vụ vẫn giữ nguyên hoặc tiếp tục tăng mà không có lý giải hợp lý, lợi ích của chính sách sẽ chưa được truyền dẫn đầy đủ đến người dân.
Do đó, bên cạnh giảm thuế, phí và giá năng lượng, cơ quan quản lý cần tăng cường theo dõi diễn biến giá cả, công khai các yếu tố hình thành giá, kiểm tra những trường hợp tăng giá bất hợp lý và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Giảm 2% giá điện: Tín hiệu đáng ghi nhận nhưng …
Việc EVN lần đầu giảm giá bán lẻ điện bình quân sau nhiều năm là một diễn biến đáng chú ý. Tuy nhiên, mức giảm 2% cũng đặt ra câu hỏi về khả năng hỗ trợ thực tế đối với người dân và doanh nghiệp.
Theo số liệu của Cơ quan Thống kê Quốc gia, bình quân 9 tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,68%, tác động làm CPI chung tăng 1,52 điểm phần trăm. Riêng giá điện sinh hoạt tăng 4,35%.
Những con số này cho thấy chi phí điện và các khoản liên quan đến nhà ở đã tạo ra áp lực đáng kể lên chi tiêu của người dân trong thời gian qua.
Vì vậy, mức giảm 2% dù có ý nghĩa nhất định nhưng khó có thể bù đắp toàn bộ phần tăng giá trước đó. Đối với hộ gia đình, số tiền tiết kiệm được còn phụ thuộc lượng điện sử dụng và biểu giá từng bậc. Đối với doanh nghiệp sản xuất, mức giảm này cũng chỉ giúp tiết kiệm một phần chi phí vận hành.

Mặt khác, vấn đề giá điện không thể chỉ nhìn từ mong muốn giảm giá trước mắt. Theo kết quả kiểm tra chi phí sản xuất, kinh doanh điện năm 2025 được công bố, tổng chi phí của EVN hơn 601.680 tỉ đồng, giá thành sản xuất, kinh doanh điện khoảng 2.092,70 đồng/kWh. EVN cũng còn hơn 17.506 tỉ đồng chi phí chưa được hạch toán vào giá thành, chủ yếu liên quan đến chênh lệch tỷ giá.
Điều này cho thấy việc giảm giá điện cần đi cùng yêu cầu kiểm soát chi phí, nâng cao hiệu quả quản trị và minh bạch các khoản chi phí cấu thành giá. Không thể chỉ yêu cầu giảm giá mà bỏ qua bài toán cân đối tài chính, đầu tư nguồn điện và bảo đảm cung ứng điện ổn định.
Về lâu dài, điều người dân và doanh nghiệp cần không chỉ là những đợt giảm giá ngắn hạn mà còn là một cơ chế giá điện minh bạch, có khả năng dự báo, hạn chế những cú điều chỉnh gây sốc cho chi phí sinh hoạt và sản xuất.
Có nên bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng trong dài hạn?
Một vấn đề khác đáng được đặt ra là thời hạn áp dụng chính sách giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng.
Theo Nghị quyết 45/2026/NQ-CP, chính sách chỉ có hiệu lực đến hết ngày 31/3/2027, dù Chính phủ có thể xem xét rút ngắn hoặc kéo dài thời gian thực hiện khi cần thiết.
Việc giảm thuế trong giai đoạn hiện nay là giải pháp hỗ trợ cần thiết, nhưng cũng khiến doanh nghiệp và người tiêu dùng băn khoăn về điều gì sẽ xảy ra sau khi chính sách hết hiệu lực. Nếu thuế suất được khôi phục trong khi giá dầu thế giới vẫn biến động, áp lực chi phí có thể quay trở lại.
Xăng là mặt hàng thiết yếu, gắn với nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa và hoạt động sản xuất của gần như toàn bộ nền kinh tế. Khác với những hàng hóa xa xỉ, nhu cầu sử dụng xăng của phần lớn người dân và doanh nghiệp rất khó cắt giảm trong ngắn hạn.
Bởi vậy, có cơ sở để đặt vấn đề xem xét lại tính phù hợp của việc duy trì thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng này trong dài hạn.
Một hướng tiếp cận đáng cân nhắc là đánh giá lại toàn diện cơ sở áp thuế đối với xăng, thay vì chỉ gia hạn giảm thuế theo từng đợt. Cần làm rõ liệu sắc thuế này có còn phù hợp với đặc điểm của xăng trong cơ cấu tiêu dùng và nền kinh tế hiện nay hay không; nếu không, cần thiết kế công cụ điều tiết khác hiệu quả và minh bạch hơn.
Không thể chỉ trông chờ vào giảm thuế, phí
Phát biểu tại phiên thảo luận kinh tế - xã hội của Quốc hội ngày 31/10, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Chính phủ đang triển khai nhiều giải pháp nhằm hạn chế tác động của biến động giá cả thế giới, nhất là giá năng lượng.
Theo Phó thủ tướng, từ đầu năm đến nay, Chính phủ đã dành trên 64.000 tỉ đồng thực hiện các chính sách giảm thuế, phí đối với xăng dầu. Cùng với việc đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0% và giảm giá điện khoảng 2%, các chính sách này dự kiến tạo thêm dư địa khoảng 0,07 điểm phần trăm để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu Quốc hội đề ra là 4,5%.
Đây là những nỗ lực đáng ghi nhận. Tuy nhiên, mức dư địa 0,07 điểm phần trăm là ước tính tác động hỗ trợ mục tiêu kiểm soát lạm phát, không đồng nghĩa CPI sẽ tự động giảm đúng mức đó. Diễn biến giá cả còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong và ngoài nước.
Đặc biệt, trong bối cảnh giá năng lượng, nguyên liệu và chi phí logistics quốc tế còn nhiều bất ổn, việc kiểm soát lạm phát không thể chỉ dựa vào các biện pháp giảm thuế, phí trong một khoảng thời gian nhất định.
Điều cần thiết là phải phối hợp đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần tiếp tục bảo đảm nguồn cung xăng dầu, điện và các nguyên liệu thiết yếu, hạn chế tình trạng thiếu hụt hoặc gián đoạn nguồn cung làm phát sinh chi phí. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường, xử lý hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá và các trường hợp lợi dụng biến động chi phí để tăng giá bất hợp lý.
Cùng với đó, cần thúc đẩy cạnh tranh trong các lĩnh vực vận tải, phân phối và bán lẻ; tháo gỡ những điểm nghẽn logistics, giảm chi phí lưu thông hàng hóa. Các chính sách thuế, phí và tín dụng cũng cần được điều hành linh hoạt, có trọng tâm, ưu tiên doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng thiết yếu và những nhóm người dân chịu tác động lớn từ chi phí sinh hoạt.
Đối với những hộ gia đình thu nhập thấp, lao động tự do và người dễ bị tổn thương trước biến động giá cả, các chương trình hỗ trợ trực tiếp, đúng đối tượng có thể mang lại hiệu quả thiết thực hơn những chính sách hỗ trợ dàn trải.
Sau cùng, kiểm soát lạm phát không chỉ là giữ cho các chỉ số giá nằm trong giới hạn mục tiêu, mà còn phải hạn chế sự bào mòn sức mua và thu nhập thực tế của người dân.
Bởi hiệu quả cuối cùng của chính sách phải được đo bằng những gì người dân thực sự cảm nhận trong chi tiêu hằng ngày, bằng khả năng duy trì sản xuất của doanh nghiệp và bằng một mặt bằng giá cả ổn định, hợp lý hơn. Đó mới là thước đo quan trọng của một chính sách hỗ trợ.



