Xung đột Iran và chiến sự Ukraine tạo ra cú sốc năng lượng như thế nào?
Xung đột Mỹ - Iran làm gián đoạn vận tải và lọc dầu tại vùng Vịnh, trong khi drone Ukraine liên tục tấn công các nhà máy của Nga. Hai chiến trường đang cùng làm suy yếu khả năng biến dầu thô thành xăng, diesel và nhiên liệu hàng không.

Dầu thô hạ nhiệt nhưng nhiên liệu vẫn căng thẳng
Giá dầu thường là tín hiệu đầu tiên được theo dõi khi khủng hoảng năng lượng xảy ra. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết giá North Sea Dated, còn gọi là Dated Brent giao ngay, giảm khoảng 22 USD mỗi thùng so với tháng trước, xuống quanh 68 USD trong tháng 6, rồi trở lại vùng 77 USD vào đầu tháng 7. Nguồn cung toàn cầu cũng tăng thêm 4,1 triệu thùng mỗi ngày khi một phần dòng chảy qua eo biển Hormuz được khôi phục.
Tuy nhiên, dầu thô chỉ là nguyên liệu đầu vào. Muốn trở thành xăng, diesel hay nhiên liệu hàng không, nó phải được xử lí tại nhà máy lọc dầu. Đây mới là điểm nghẽn lớn của thị trường.
Trong tháng 6, lượng dầu đưa vào các nhà máy lọc tăng 1,5 triệu thùng mỗi ngày nhưng vẫn thấp hơn cùng kì năm trước khoảng 6 triệu thùng. Nhiều cơ sở tại Trung Đông chưa hoạt động bình thường, công suất của Nga bị ảnh hưởng bởi các cuộc tập kích, còn một số nhà máy châu Á vẫn chạy dưới mức thông thường.
Tại vùng Vịnh, xuất khẩu dầu thô đã phục hồi gần ba phần tư mức tháng 2, trong khi sản phẩm lọc dầu và khí dầu mỏ hóa lỏng chưa đạt một nửa mức trước chiến tranh. Vì thế, biên lợi nhuận lọc dầu và chênh lệch giá nhiên liệu tăng lên mức cao nhất trong bốn năm dù giá dầu thô giảm. Việc xả kho dự trữ chiến lược có thể bổ sung dầu thô, nhưng không lập tức tạo thêm diesel nếu các nhà máy chưa hoạt động trở lại hoặc đã chạy gần hết công suất.
Drone Ukraine làm thay đổi dòng dầu Nga
Ukraine tập trung đánh vào các nhà máy lọc dầu Nga vì đây là mắt xích phục vụ cả kinh tế, nguồn cung nhiên liệu và hoạt động quân sự. Những cơ sở này có quy mô lớn, vị trí cố định và phụ thuộc vào thiết bị chuyên dụng nên khó che giấu hoặc sửa chữa nhanh.
Ngày 6/7, drone Ukraine tấn công nhà máy lọc dầu Omsk tại Siberia, cơ sở lớn nhất Nga với công suất danh nghĩa khoảng 428.000 thùng mỗi ngày. S&P Global cho biết đây là mục tiêu xa biên giới Ukraine nhất từng được báo cáo bị tập kích.
Các đòn đánh không trực tiếp làm giảm sản lượng khai thác, nhưng hạn chế khả năng biến dầu thô thành xăng, diesel và những sản phẩm có giá trị cao hơn. Trong tháng 6, xuất khẩu dầu thô bằng đường biển của Nga đạt 4,414 triệu thùng mỗi ngày, tăng 9% so với tháng trước và 28% so với cùng kì năm 2025. Ngược lại, xuất khẩu sản phẩm lọc dầu giảm còn 1,611 triệu thùng mỗi ngày, thấp hơn lần lượt 15% và 31%.
Nga vì thế đưa thêm dầu thô ra nước ngoài, trong khi lượng nhiên liệu có thể sử dụng ngay lại giảm. Tình trạng thiếu hụt, xếp hàng và hạn chế bán nhiên liệu cũng xuất hiện tại nhiều khu vực trong nước.
Ngày 8/7, Nga áp lệnh cấm xuất khẩu diesel, kể cả đối với các nhà sản xuất, nhằm ưu tiên thị trường nội địa. Đến cuối tháng, hạn chế đối với xăng, diesel và một số nhiên liệu khác được kéo dài tới ngày 31/1/2027, dù từ ngày 1/9 có một số ngoại lệ dành cho nhà sản xuất. Dầu Nga không biến mất khỏi thị trường. Nó chuyển từ sản phẩm đã qua chế biến thành dầu thô đúng lúc thế giới cần thêm diesel hơn là thêm nguyên liệu.
Hormuz và các nhà máy Nga cùng siết nguồn cung
Trước chiến tranh, lượng dầu đi qua eo biển Hormuz tương đương khoảng một phần năm mức tiêu thụ dầu toàn cầu. Tuyến hàng hải này cũng vận chuyển hơn một phần năm lượng khí tự nhiên hóa lỏng được giao dịch trên thế giới. Giao tranh khiến hoạt động hàng hải nhiều lần suy giảm, ảnh hưởng tới cả dầu thô lẫn nhiên liệu xuất khẩu từ vùng Vịnh.
Dầu có thể được chuyển qua đường ống hoặc tuyến vận tải khác, nhưng nhà máy lọc dầu không thể thay thế nhanh. Cuối tháng 6, CERA ước tính hơn 2,5 triệu thùng công suất lọc dầu mỗi ngày tại Nga ngừng hoạt động, tương đương hơn một phần ba tổng công suất cả nước. Trong tuần kết thúc ngày 10/7, con số này vượt 4 triệu thùng mỗi ngày, gồm cả hậu quả tập kích và các sự cố ngoài kế hoạch.
Áp lực buộc những trung tâm còn lại phải tăng sản lượng. Các nhà máy Mỹ vận hành ở mức 96,2% công suất trong tuần kết thúc ngày 10/7. Tồn kho nhiên liệu chưng cất tăng 4,6 triệu thùng nhưng vẫn thấp hơn khoảng 11% so với trung bình 5 năm, cho thấy dư địa ứng phó với gián đoạn mới không còn nhiều.
Chi phí vận chuyển cũng tăng mạnh. Phí bảo hiểm chiến tranh đối với tàu qua Hormuz từ khoảng 0,25% giá trị thân tàu trước xung đột đã lên 3–10% trong tháng 7. Với tàu trị giá 100 triệu USD, khoản phí này có thể đạt 3–10 triệu USD. Hải quân có thể bảo vệ luồng hàng hải, nhưng không thể buộc hãng bảo hiểm hay chủ tàu chấp nhận rủi ro.
Nga cũng chưa chắc hưởng lợi khi xuất khẩu thêm dầu thô. Trong tháng 6, mức chiết khấu của dầu Urals so với Brent tại cảng Primorsk tăng lên trung bình 25,17 USD mỗi thùng và đạt 27,93 USD ngày 1/7. Điều đó làm giảm phần doanh thu tăng thêm từ khối lượng xuất khẩu. Hai chiến trường vì thế đang cùng siết thị trường nhiên liệu. Hormuz làm tăng chi phí vận tải và bảo hiểm, trong khi các cuộc tập kích tại Nga khiến nguồn diesel suy giảm.
Cú sốc đi vào nền kinh tế qua mỗi lít diesel
Giá dầu thô được theo dõi trên thị trường, nhưng diesel mới là nhiên liệu đưa cú sốc năng lượng vào đời sống. Nó vận hành xe tải, tàu hàng, máy móc xây dựng, thiết bị khai khoáng và phương tiện nông nghiệp. Khi giá diesel tăng, chi phí vận tải cũng đi lên rồi lan sang thực phẩm, vật liệu và hàng tiêu dùng.
Nguồn nhiên liệu từ Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc và các trung tâm lọc dầu khác có thể bù đắp một phần thiếu hụt. Tuy nhiên, nhiên liệu phải đi xa hơn, chịu chi phí vận tải và bảo hiểm cao hơn, trong khi số cơ sở còn dư công suất không nhiều.
IEA dự báo lượng dầu được xử lí tại các nhà máy lọc trên toàn cầu giảm trung bình 2,4 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2026, trước khi tăng thêm 3,1 triệu thùng vào năm 2027. Vì vậy, thị trường khó trở lại bình thường chỉ trong vài tuần.
Tác động đã lan sang lĩnh vực sản xuất. Các khảo sát tháng 7 cho thấy nhiều nền kinh tế phải đối mặt với chi phí đầu vào cao, nhu cầu yếu và chuỗi cung ứng kéo dài do chiến sự Trung Đông.
Một thỏa thuận tại Hormuz có thể mở lại tuyến hàng hải, nhưng hoạt động thương mại chỉ phục hồi đầy đủ khi chủ tàu và hãng bảo hiểm tin rằng rủi ro đã giảm lâu dài. Giảm các cuộc tấn công vào nhà máy Nga có thể hạ áp lực lên diesel, nhưng cũng giúp Moskva khôi phục nguồn nhiên liệu.
An ninh năng lượng vì thế không chỉ phụ thuộc vào giá dầu Brent hay số dầu được khai thác. Nó còn nằm ở nhà máy lọc dầu, kho nhiên liệu, đội tàu, bảo hiểm và các tuyến vận chuyển thay thế. Chiến tranh Iran và Ukraine đang cùng tác động vào một hệ thống có ít công suất dự phòng, khiến khả năng biến dầu thô thành nhiên liệu trở thành điểm nghẽn lớn hơn chính nguồn dầu.


