Campuchia tập trung canh tác quy mô nhỏ để đối phó COVID-19, liệu có hiệu quả?

Liệu sự chuyển đổi có tác nhân từ dịch COVID đã đủ để hỗ trợ tất cả công nhân ngành công nghiệp may mắn bị sa thải? Ai mới là người thực sự có lợi?

Chính phủ Campuchia đã đặt trọng tâm vào ngành nông nghiệp quy mô nhỏ trong bối cảnh COVID-19 để giải quyết số lượng lớn người lao động bị sa thải từ các ngành may mặc, du lịch, xây dựng và giao thông. Các hộ nông dân Campuchia nông thôn điển hình sở hữu đất đai quy mô nhỏ và thiếu kỹ thuật lành nghề trong canh tác nông nghiệp. Điều này dấy lên sự nghi ngờ rằng liệu một động thái như vậy có thể thay thế cho chuyện mất việc làm trong các ngành bị ảnh hưởng bởi COVID-19 không.

Đây được coi là một chiến lược để hỗ trợ cho việc tiếp tục các lợi ích từ các đặc quyền thương mại miễn thuế của Liên minh Châu Âu (EU) theo Hiệp định “Tất cả mọi thứ trừ Vũ khí” (EBA). EU vẫn sẽ ủng hộ các sản phẩm nông nghiệp và gạo của Campuchia, theo báo cáo chung của EU.

Trước đại dịch COVID-19, chính phủ đã xác nhận sự rút đi một phần của Hiệp định EBA từ EU vì lo ngại về việc vi phạm nhân quyền và sự suy đồi dân chủ. Khi bắt đầu có hiệu lực vào ngày 12 tháng 8 năm 2020, việc rút đi một phần các đặc quyền thương mại của Campuchia theo Hiệp định EBA có tác động sâu sắc nhất đối với các ngành may mặc, giày dép, hàng hóa du lịch và ngành công nghiệp đường. Tác động này có thể tiêu tốn khoảng một phần năm hoặc 1 tỉ euro (1,1 tỉ USD) của lượng hàng xuất khẩu hàng năm của Campuchia vào EU.

Vào thời điểm hiện tại của dịch COVID-19, chính phủ Campuchia cho đến nay vẫn được ca ngợi vì các biện pháp thành công trong việc ngăn chặn virus. Thành công này có thể là do các thói quen đeo mặt nạ lâu đời khi người khác bị bệnh và các biện pháp, chính sách hiệu quả rõ ràng của chính phủ. Không có trường hợp nào được xác nhận lây nhiễm trong cộng đồng. Chỉ mới gần đây Bộ Y tế bắt đầu cảnh báo người dân nên đề phòng, đề phòng khả năng lây nhiễm trong cộng đồng sau hai đợt nhảy ca với 26 và 23 trường hợp sau nhập cảnh được phát hiện trong vòng năm ngày. Tổng số trường hợp nhiễm được xác nhận là 226, không có trường hợp tử vong tính đến ngày 29 tháng 7.

Thành công của Vương quốc này trong việc ngăn chặn virus tại thời điểm này không có nghĩa là virus này không có tác động đến nền kinh tế Campuchia. Ngân hàng Thế giới ước tính rằng Campuchia đã trải qua sự tăng trưởng kinh tế chậm nhất kể từ năm 1994, nằm trong khoảng từ âm 1% đến âm 2,9%. Một báo cáo trước đó ước tính rằng sự chậm lại của nền kinh tế có thể làm tăng hộ nghèo từ 3 đến 11% nếu COVID-19 tồn tại trong sáu tháng (đã đạt mốc này). Với sự suy thoái kinh tế này, Campuchia đã trải qua số lượng lao động bị sa thải chưa từng có, thiệt hại hơn 390.000 việc làm trong nước cùng với 100.000 người nhập cư thất nghiệp trở về từ Thái Lan. Con số này không bao gồm hàng trăm công nhân từ Malaysia. Mặc dù số lượng công nhân bị ảnh hưởng chính xác vẫn chưa rõ ràng, nhưng chỉ riêng việc hạn chế đi lại đã làm ảnh hưởng đến hơn 600.000 công nhân làm việc trong ngành du lịch và hơn 200.000 công nhân làm việc trong ngành xây dựng.

Gần đây, chính phủ đã có động thái trao các gói tiền mặt cho các hộ gia đình nghèo và dễ bị tổn thương, cung cấp hỗ trợ tạm thời các ngày nghỉ có lương cho các nhà máy may mặc cũng như các ngành du lịch, vận chuyển và xây dựng, và cung cấp 40 đô la mỗi tháng cho công nhân may mặc. Thêm vào đó, Thủ tướng Hun Sen đã khuyến khích những người lao động bị sa thải và những người di cư trở về chuyển sang canh tác nông nghiệp quy mô nhỏ và tuyên bố sẽ hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân. Theo ông Hun Sen, ông sẽ bơm 100 triệu đô la để cải thiện hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp và tạo việc làm ngắn hạn ở các khu vực nông thôn. Nhiều chuyên gia đang hoài nghi rằng liệu kế hoạch canh tác quy mô nhỏ này có thể thay thế đủ việc làm cho tất cả công nhân bị sa thải khỏi các nhà máy may mặc và khả năng mất lợi ích từ Hiệp định EBA không. Theo báo cáo của Ngân hàng Việc làm, hiệu suất của ngành nông nghiệp còn yếu.

Mặc dù 80 phần trăm người Campuchia sống ở khu vực nông thôn, với phần lớn phụ thuộc vào nông nghiệp, một tỷ lệ lớn nông dân quy mô nhỏ gần như không có đất canh tác. Một tỷ lệ lớn sở hữu dưới 0,5 ha đất. Lượng đất đai này cung cấp ít hơn một nửa nhu cầu dinh dưỡng của một gia đình nông thôn điển hình. Theo Ngân hàng Thế giới, 10 phần trăm các gia đình nông thôn Campuchia hoàn toàn không có đất. Chương trình của Campuchia về nhượng bộ đất xã hội (SLC) đã hỗ trợ cho nông dân nghèo và dễ bị tổn thương ở nông thôn để giải quyết vấn đề không có đất. Vấn đề gần như không có đất và không có đất có thể là hậu quả từ việc nhượng bộ đất đai kinh tế (ELC) quy mô lớn chưa từng có gây ảnh hưởng đến cộng đồng bản địa và nông dân nông thôn, mà chính phủ đã tập trung vào những năm 2000 trước đại dịch COVID-19. Đến nay, chính phủ đã cung cấp tổng số 1.178.646 ha đất tại 19 tỉnh thành để làm đất đai kinh tế.

Mặc dù chính phủ đang hợp tác với các nước bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, EU và Nhật Bản để xuất khẩu hàng hóa tiềm năng (chủ yếu là gạo), nhưng việc canh tác quy mô nhỏ của Campuchia phụ thuộc vào các hoạt động canh tác truyền thống và đất được mưa tưới tiêu. Nhiều nông dân quy mô nhỏ thiếu kỹ năng trồng trọt đa dạng cho canh tác, lúa được trồng liên tục trên đất liền và trên 58% trang trại chỉ mỗi năm một lần. Các vấn đề về tưới tiêu nông thôn, chiến lược đất đai và cày cấy đất đai là những thách thức kỹ thuật đối với nông dân quy mô nhỏ. Cạnh tranh với các nước như Việt Nam và Thái Lan tiên tiến hơn về nông nghiệp để xuất khẩu là một trong nhiều hạn chế đối với các hộ nông dân quy mô nhỏ Campuchia, những người có sản lượng nói chung chỉ tốt cho sinh kế gia đình. Việc thiếu kiến thức về khả năng phục hồi khí hậu trong nông nghiệp và chi phí đầu vào nông nghiệp cũng là những khó khăn để cây trồng Campuchia có thể cạnh tranh trong thị trường quốc tế.

Do Hiệp định EBA không tác động đến việc xuất khẩu gạo và các sản phẩm nông nghiệp sang thị trường EU, thỏa thuận gần đây về hiệp ước thương mại tự do giữa Campuchia và Trung Quốc nhằm mục đích xuất khẩu gạo, chuối và xoài sẽ có lợi cho các công ty nước ngoài thay vì các hộ nông dân quy mô nhỏ. Thỏa thuận này hy vọng sẽ thu hút thêm nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến Campuchia trong giai đoạn chiến tranh thương mại Trung-Mỹ. Nói cách khác, thỏa thuận này khả năng cao có thể làm tăng sức mạnh của các nhà đầu tư hiện tại để mở rộng hoạt động kinh doanh của họ tại Vương quốc này. Người ta cũng nhận thấy rằng điều này có thể bù đắp cho những mất mát có thể xảy ra từ Hiệp định EBA và xây dựng mối quan hệ mạnh mẽ hơn cho lập trường địa chính trị để chống lại phương Tây và ASEAN. Tuy nhiên, Trung Quốc chỉ coi hiệp ước này là bảo hiểm rủi ro để phòng ngừa cuộc khủng hoảng kinh tế do COVID-19.

Các nhà đầu tư Trung Quốc tại Campuchia đã điều chỉnh chiến lược của họ khi Hiệp định EBA quyết định từ bỏ giao dịch đường. Năm công ty anh em: Rui Feng, Lan Feng, Heng You, Heng Rui và Heng Nong, đã cấp hơn 42.000 ha cho việc trồng đường vào năm 2011 tại tỉnh Preah Viget, tỉnh này gần đây đã tạm dừng hoạt động trồng đường và chuyển sang trồng lúa. Sự thay đổi này nhằm điều chỉnh cho tương xứng với sự hỗ trợ còn lại của Hiệp định EBA tiếp cận vào các thị trường EU và hiệp định thương mại tự do Trung Quốc-Campuchia.

Nói tóm lại, sự thay đổi gần đây của Vương quốc Campuchia tập trung vào nông nghiệp trong bối cảnh đại dịch COVID-19 có thể sẽ không đạt được nhiều lợi ích và có thể là không đủ cho tất cả những người lao động bị sa thải từ các khu vực bị ảnh hưởng. Thay vào đó, sự thúc đẩy này sẽ mang lại lợi ích cho các công ty có quyền tiếp cận đất đai để trồng lúa và nông nghiệp thông qua việc nhượng bộ đất đai kinh tế (ELC).

Hoàng Phương (theo Diplomat)


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận0

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.